BÁC HỒ ĂN TẾT CÙNG NHÂN DÂN NĂM 1946
“Chiều 30 Tết, Bác Hồ nói với các chiến sĩ:
"Các cô các chú nào có gia đình ở Hà Nội thì mời vào đây vui Tết với
Bác". Chú em tôi cuống quýt chạy một mạch về nhà báo tin. Được ăn Tết cùng
với Bác thì vui quá. Đêm hôm ấy, cả gia đình tôi thao thức, tới quá giao thừa
vẫn chẳng ai ngủ được.
Sáng hôm sau - tức mùng 1 Tết âm lịch năm
1946, cái Tết đầu tiên sau khi nước nhà giành được độc lập, ông cụ thân sinh
tôi dậy rất sớm, ăn vận áo the, khăn xếp chỉnh tề, với tôi, anh trai Phan Xuân
Giực, vợ chồng chị Phan Thị Trâm, Trần Khánh Lục và đứa con gái của họ là Trần
Thị Thành cùng tới Bắc Bộ phủ.
Khi chúng tôi tới nơi thì đã thấy gần 50 người
- là thân thích của các chiến sĩ khác - cũng đang đứng đợi ở ngoài sân. Bỗng
Bác đi ra từ trong dinh với bộ quần áo kaki, đôi dép caosu quen thuộc. Bác đưa
tay vẫy chào mọi người nói, ân cần: "Bây giờ xin mời tất cả ra đây chúng
ta cùng vui Tết".
Chúng tôi theo Bác đi ra khu vườn trong Bắc Bộ
phủ. Suốt dọc con đường rải đá sỏi, hai bên mượt cỏ tóc tiên, những chiếc chiếu
được trải ra, cỗ đã bày sẵn. Tôi không còn nhớ chính xác có những món ăn gì,
nhưng không có mâm cao cỗ đầy gì cả mà rất đơn sơ, cơm được xới từ trong những
chiếc rá. Ông cụ thân sinh tôi cao tuổi nhất, được Bác nắm tay mời ngồi cùng ở
mâm đầu tiên, các anh, chị tôi bế đứa nhỏ cũng ngồi kề ngay đấy.
Có mặt trong bữa cơm thân mật này còn có cả
ông Đàm Quang Trung - sau này là Thượng tướng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước
kiêm Chủ tịch Hội đồng Dân tộc và ông Vũ Đình Huỳnh - thư ký riêng của Bác. Bác
mời cơm ông cụ nhà tôi, hỏi thăm cháu Thành rất ân cần, niềm nở. Tôi liền lấy
máy ảnh ra chụp liên hồi. Bữa cơm chỉ kéo dài chừng nửa giờ đồng hồ nhưng tràn
đầy xúc động.
Cụ Thúy hồi tưởng: "Hồi kháng chiến toàn
quốc, cũng như bao gia đình Hà Nội khác, chúng tôi lên đường tản cư. Khi di
tản, tôi chỉ kịp nhét vào túi áo mỗi bức ảnh này vì nó có kích cỡ nhỏ. Những
bức ảnh khác được lồng khung treo ở hiệu ảnh phố Hàng Bài, cùng với sập gụ, tủ
chè, tư trang, đồ đạc thì mất hết. Tấm ảnh đó luôn nằm trong túi áo tôi, là một
kỷ vật, vừa như lá bùa hộ mệnh giúp tôi vượt qua bao quãng đường trường. Khi
trở về Hà Nội, điều đầu tiên tôi làm là lấy máy chụp lại, rồi phóng to nó lên
đem treo ở vị trí trang trọng nhất trong nhà".
Đến nay, kỷ niệm này vẫn luôn được gia đình
ông kể lại với sự trân trọng và niềm xúc động sâu sắc.
Một lần nhân dịp đầu Xuân, Bác Hồ đến thăm đơn
vị lính cứu hỏa Thủ đô, trong thời buổi đất nước mới bắt đầu vào xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc, trang bị còn sơ sài, nhiều đồng chí biên chế chưa có
nghiệp vụ, bộn bề khó khăn....Bác cháu nói chuyện rất vui vẻ, các đồng chí xin
Bác một lời chúc đầu Xuân, Bác mỉm cười và nói : Bác chúc các chú thất nghiệp.
Lời chúc giản dị, mộc mạc của Bác gửi gắm một
tình yêu bao la Người dành cho lính cứu hỏa nói riêng và nhân dân ta nói chung.
79 mùa Xuân của cuộc đời, Bác Hồ kính yêu luôn
gắn mình với dân tộc. Bác đã dành cả cuộc đời vì mục tiêu độc lập dân tộc, giải
phóng cho từng giai cấp. Trước khi Bác đi xa, trong Di chúc của mình, Bác luôn
thể hiện niềm trăn trở với mục tiêu đó. Đã 46 năm kể từ ngày Bác đi xa nhưng
từng câu chuyện về Người vẫn luôn được nhắc đi nhắc lại cho từng thế hệ người
Việt Nam. Những câu chuyện giản dị đó chính là hành trang đầy ý nghĩa cho chúng
ta phấn đấu, nỗ lực đóng góp công sức vào xây dựng đất nước, sống với lý tưởng
cách mạng vĩ đại của dân tộc./.
Thanh Huyền

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét