Thứ Hai, 17 tháng 3, 2025

KỶ NIỆM 94 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN (26/3/1931 – 26/3/2025)

 Nhớ những lời dạy của Bác Hồ dành cho thanh niên

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại luôn dành những tình cảm tốt đẹp cũng như thời gian, công sức, trí tuệ của mình để giáo dục, bồi dưỡng các thế hệ thanh niên Việt Nam đến với cách mạng, tham gia vào quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… Bởi theo Người thanh niên luôn là lực lượng tiên phong, xung kích trên các mặt trận, góp phần xây dựng hoà bình. Bác rất tin tưởng ở thanh niên - lực lượng hậu bị của Đảng và là lực lượng cách mạng cho đời sau.

Ngay từ thời trẻ, Người đã ý thức được vai trò của thanh niên trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc là vô cùng to lớn. Như tình cảm của một người cha đối với con, Bác Hồ hiểu rõ những ưu, nhược điểm của thanh niên nước ta. Bác luôn căn dặn thanh niên: “Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà. Phải học tập mãi, tiến bộ mãi, mới thật là thanh niên”. Bác luôn nhấn mạnh đến việc học tập, vấn đề cốt lõi để các thế hệ thanh niên trang bị cho mình sự hiểu biết, vốn kiến thức, một trong những điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho các thế hệ thanh niên có thể vươn mình ra biển lớn, lấy sức trẻ làm giàu cho Tổ quốc, quê hương.

Có thể khẳng định rằng, chăm lo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã dành cho thế hệ trẻ những tình cảm và sự quan tâm sâu sắc.

Nhân dịp kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (26/3/1931-26/3/2025). Nhân dịp này, xin được trích dẫn những lời dạy mà lúc sinh thời Bác đã dành cho các thế hệ thanh niên Việt Nam để thấy được những tình cảm sâu sắc, sự quan tâm bồi dưỡng những thế hệ thanh niên của Bác kính yêu.

 Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”.

            (Thư gửi Thanh niên An Nam, 1925)

“… ngày nay chúng ta phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên toàn cầu. Trong công cuộc kiến thiết đó, nhà nước trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai cùng các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

 (Thư gửi các em học sinh nhân Ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tháng 9/1945).

“Hỡi anh chị em thanh niên Nam Bộ!

Tôi thề cùng các bạn giữ vững nền độc lập tự do của nước Việt Nam. Dẫu có phải hy sinh đến nửa số dân tộc, ta cũng quyết hy sinh. Cuộc kháng chiến tự vệ chính nghĩa của dân tộc Việt Nam phải toàn thắng”.

         (“Lời kêu gọi thanh niên Nam Bộ”, ngày 30/10/1945)

“... Một năm khởi đầu từ mùa Xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa Xuân của xã hội.

Vậy qua năm mới, các cháu phải xung phong thực hành “đời sống mới”.

Đời sống mới là:

- Hăng hái, kiên quyết, không sợ khó, không sợ khổ.

- Phải siêng học, phải siêng làm, phải tiết kiệm.

- Việc nên làm (như ủng hộ kháng chiến, tăng gia sản xuất) thì ta không chờ ai nhắc nhủ.

- Việc nên tránh (như tự tư tự lợi) thì ta không đợi ai ngăn ngừa”

(Gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết sắp đến, 1 - 1946, Sđd, tập 4, trang 167)

“… Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó”.

      (“Thư gửi các bạn thanh niên”, ngày 12/8/1947)

            “Không có việc gì khó

             Chỉ sợ lòng không bền

             Đào núi và lấp biển

             Quyết chí ắt làm nên”.

 (Bài thơ Bác tặng Đơn vị thanh niên xung phong 312 làm đường tại xã Cẩm Giàng, Bạch Thông, Bắc Kạn, ngày 28/3/1951)

“Ưu điểm của thanh niên ta là hăng hái, giàu tinh thần xung phong. Khuyết điểm là ham chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân, bệnh anh hùng. Rất mong toàn thể thanh niên ta ra sức phát triển những ưu điểm và tẩy sạch những khuyết điểm ấy. Huy hiệu của thanh niên ta là “tay cầm cờ đỏ sao vàng tiến lên”. Ý nghĩa của nó là: Phải xung phong làm gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng. Thanh niên phải thành một lực lượng to lớn và vững chắc trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Đồng thời phải vui vẻ, hoạt bát. Bác mong mỗi cháu và toàn thể các cháu nam nữ thanh niên cố gắng làm tròn nhiệm vụ, để xứng đáng với cái huy hiệu tươi đẹp và vẻ vang ấy”.

         (Thư gửi thanh niên, tháng 4/1951, Hồ Chí Minh toàn tập)

 “Kháng chiến càng tiến tới, công việc ngày càng nhiều, chúng ta cần củng cố và phát triển Ðội TNXP để bảo đảm thêm công việc kháng chiến và đào tạo cán bộ sau này. Nhiệm vụ của Ðội TNXP là xung phong mọi việc bất kỳ việc khó, việc dễ và phục vụ đến ngày kháng chiến thành công. Ðó là nhiệm vụ rất vẻ vang của thanh niên”.

(“Ðội Thanh niên xung phong” đăng trên báo Nhân Dân số 147, 1953)

 “Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào?”

(Bài nói chuyện với sinh viên và thanh niên trong Lễ khai mạc Trường Đại học Nhân dân Việt Nam ngày 19/11/1955)

 “Tính trung bình thanh niên chiếm độ 1 phần 3 tổng số nhân dân – tức là một lực lượng to lớn. Lực lượng to lớn thì phải có nhiệm vụ to lớn”

(“Nhiệm vụ của thanh niên ta”, báo Nhân dân ngày 20/12/1955)

“Người ta thường nói: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Để thật xứng đáng là người chủ của một nước xã hội chủ nghĩa, thanh niên ta quyết tâm thực hiện mấy điều sau đây:

- Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng tức là khiêm tốn, đoàn kết, thực hành chủ nghĩa tập thể, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, người tiên tiến thì giúp đỡ người kém, người kém phải cố gắng để tiến lên, ra sức cần kiệm xây dựng nước nhà.

- Phải nghiêm khắc chống chủ nghĩa cá nhân như tự tư tự lợi, tự kiêu, tự mãn, chỉ tham việc gì có danh tiếng, xem khinh những công việc bình thường. Phải chống tham ô, lãng phí.

- Phải cố gắng học hỏi để không ngừng nâng cao trình độ chính trị, văn hóa và kỹ thuật để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.”

(Bài nói chuyện tại Đại hội Thanh niên tích cực lao động xã hội chủ nghĩa, ngày 17/3/960)

 “Thanh niên ta phải cố gắng học. Do hoàn cảnh trong xã hội cũ hạn chế nên số đông thanh niên công – nông ta ít được học. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì nhất định phải có học thức”.

 (Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam, ngày 24/3/1961)

 “Bác rất yêu quý thanh niên:

- Vì thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách, dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai - tức là các cháu nhi đồng.

- Vì thanh niên là người xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế và văn hóa trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

- Vì thanh niên là lực lượng cơ bản trong bộ đội, công an và dân quân tự vệ, đang hăng hái giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ Tổ quốc”.

 (Bài nói chuyện tại Đại hội toàn quốc lần thứ hai của Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, ngày 20/12/1961)

 “Phải không sợ khổ, không sợ khó, thực hiện đâu cần thanh niên có, việc khó có thanh niên, gặp gian khổ phải đi lên phía trước, khi hưởng thụ phải hưởng thụ sau mọi người”.

(Bài phát biểu tại Hội nghị Cán bộ toàn miền Bắc, tháng 9/1962)

 Đảng, Chính phủ và Bác rất chú ý đến thanh niên. Bác vui lòng khen ngợi những cố gắng của thanh niên… Thanh niên phải xung phong đến những nơi khó khăn gian khổ nhất, nơi nào người khác làm ít kết quả, thanh niên phải xung phong đến làm cho tốt.

Trọn đời trung thành với sự nghiệp cách mạng, với Tổ quốc, với Đảng, với giai cấp.

Không sợ khổ, không sợ khó, thực hiện: "Đâu cần thanh niên có, việc gì khó thanh niên làm", "gian khổ thì đi trước, hưởng thụ sau mọi người".

Không nên tự cho mình là tài giỏi, không khoe công, không tự phụ.”

(Bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam toàn miền Bắc, ngày 22/9/1962)

 “Bác muốn dặn thêm các cháu mấy điều:

- Phải luôn luôn nâng cao chí khí cách mạng “trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Không sợ gian khổ, hy sinh, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất và anh dũng chiến đấu, xung phong đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

 - Phải tin tưởng sâu sắc ở lực lượng và trí tuệ của tập thể, của nhân dân. Tăng cường đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau. Nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật. Kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tự do.

- Luôn luôn trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn và giản dị. Chống kiêu căng, tự mãn. Chống lãng phí, xa hoa. Thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh, để giúp nhau cùng tiến bộ mãi.

- Ra sức học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và quân sự để cống hiến ngày càng nhiều cho Tổ quốc, cho nhân dân.

- Luôn luôn chú ý dìu dắt và giáo dục thiếu niên và nhi đồng, làm gương tốt về mọi mặt cho đàn em noi theo”.

                                                          (Thư gửi thanh niên Ngày 2/9/1965)

 “Các cháu xứng đáng là những thanh niên ưu tú của nhân dân Việt Nam anh hùng. Và, giặc Mỹ đã thua to ở hai miền nước ta, chúng đang thất bại ngày càng nặng nề hơn ở miền Nam, nhưng chúng vẫn rất ngoan cố chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta. Vì vậy, Bác nhắc nhở các cháu: Phải nêu cao ý chí chiến đấu, tinh thần cảnh giác cách mạng, cùng quân dân ta quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược; luôn luôn đoàn kết, ra sức học tập chính trị, kỹ thuật, văn hóa để ngày càng tiến bộ, đem hết nhiệt tình tài năng của tuổi trẻ cống hiến thật nhiều cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước”.

 (Thư khen ngợi đơn vị TNXP 333 có nhiều thành tích xuất sắc trên các tuyến đường Khu Bốn ác liệt, ngày 27/1/1969)

  “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”.

(Di Chúc của Người)

Theo Trang tin điện tử Ban Quản lý Lăng Chủ tịch

Thứ Hai, 3 tháng 3, 2025

CHÀO MỪNG NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ 8/3

 TÌNH CẢM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

DÀNH CHO CÁC THẾ HỆ PHỤ NỮ CÁC NGÀNH, CÁC GIỚI

LÀ BÀI HỌC LỚN VÀ SÂU SẮC


Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, đánh giá cao về vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội. Bác luôn cổ vũ phụ nữ Việt Nam vươn lên phấn đấu để khẳng định vị thế và có nhiều đóng góp tích cực cho xã hội. Với tư tưởng nhân văn và tiến bộ nên mọi lời nói và hành động của Người đối với nữ giới từ trẻ đến già đã để lại những cảm xúc, những dấu ấn tốt đẹp không thể mờ phai. Mỗi lời nhắn nhủ ân cần, mỗi câu chuyện cảm động về tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho các thế hệ phụ nữ các ngành, các giới là bài học lớn và sâu sắc cho mọi người suy ngẫm và làm theo.

1. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trân trọng tự hào về truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đồng thời, luôn đặt niềm tin vào vai trò của phụ nữ và tin tưởng giao trọng trách cho phụ nữ.

Bác đã viết: “Non song gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Trên Báo Việt Nam độc lập, số 104, ngày 01 tháng 9 năm 1941 đã đăng bài thơ với tựa đề “Phụ nữ”[1] của Bác:

Việt Nam phụ nữ đời đời

Nhiều người vì nước, vì nòi hy sinh.

Ngàn thu rạng tiếng bà Trưng,

Ra tay cứu nước, cứu dân đến cùng.

Bà Triệu Ẩu thật anh hùng,

Cưỡi voi đánh giặc, vẫy vùng bốn phương.

Mấy năm cách mệnh khẩn trương,

Chị em phụ nữ thường thường tham gia.

Mấy phen tranh đấu xông pha,

Lòng vàng gan sắt nào đà kém ai?

Kìa như chị Nguyễn Minh Khai

Bị làm án tử đến hai ba lần.

Bây giờ cơ hội đã gần,

Đánh Tây, đánh Nhật, cứu dân nước nhà.

Chị em cả trẻ đến già

Cùng nhau đoàn kết đặng mà đấu tranh.

Đua nhau vào hội Việt Minh

Trước giúp nước, sau giúp mình mới nên.

Làm cho thiên hạ biết tên

Làm cho rõ mặt cháu Tiên, con Rồng.

 2. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn bày tỏ sự tôn trọng, quan tâm và luôn dành sự ngưỡng mộ đối với khí phách của phụ nữ.


Bác đã tự hào: “Hội phụ nữ mới 20 tuổi. Nhưng truyền thống anh hùng của phụ nữ Việt Nam ta đã có gần 2.000 năm và ngày càng phát triển… Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ cả hai miền Nam Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh hùng của cả nước ta”[2]

Bác viết: “Thơ tặng 11 cô gái Sông Hương

Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường,

Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường

Bác khen các cháu dân quân gái

Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương”[3]

Có một lần, biết tin đội nữ dân quân Thanh Hóa là những người nữ đầu tiên có thành tích bắn rơi máy bay phản lực Mỹ, Bác đã viết thư khen và mời ra thăm. Bác ra vườn hái tặng cho các cô gái mỗi người một chùm hoa lan thật to đang nở thơm ngát. Người lính bảo vệ xuýt xoa như tiếc nuối, thì Bác đã nói: “Hoa đẹp thật. Nhưng người quí hơn hoa”[4]

3. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm khuyến khích phụ nữ biết chăm chút nhan sắc, sự duyên dáng và sức khỏe để góp phần tôn vinh vẻ đẹp của phụ nữ nước nhà và thực hiện thiên chức là vợ, làm mẹ.

Nói chuyện với cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ Trung ương, Bác phân tích: “Phụ nữ phải đem hết sức mình ra chiến đấu và sản xuất, cho nên chị em ăn mặc giản dị, tóc cũng cắt ngắn đi làm cho gọn. Bây giờ, nên kinh tế đã được khôi phục và phát triển, đời sống được nâng cao, phụ nữ có thể trang điểm cho thêm đẹp, ai cho rằng để tóc dài đẹp và không vướng víu gì trong sản xuất thì cứ để.”[5

Khi biết anh hùng Trần Thị Lý muốn được bác sĩ cắt bỏ dạ con để vết thương rất dài ở bụng không rỉ máu dai dẳng, Bác đã không đồng ý. Bởi vì Bác biết chị Lý có người yêu còn đang chiến đấu ở miền Nam và cả hai vẫn đang chung thủy đợi chờ nhau.[6]

Trong thư gửi con gái của nhà văn Đặng Thai Mai, lúc ấy đang mang thai: “Phải cẩn thận, nếu không cần kíp lắm thì không nên cưỡi ngựa, lội suối trèo đèo và làm gì nặng nề mệt nhọc quá”[7]

4. Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn phụ nữ Việt Nam luôn là những con người mẫu mực và có phẩm hạnh tốt đẹp.

Bác nhắn nhủ: “Phụ nữ công nhân cần tích cực tham gia quản lý thật tốt nhà máy, công trường. Phụ nữ nông dân cần hăng hái tham gia phong trào đổi công, hợp tác, gặt tốt vụ mùa, chuẩn bị tốt vụ chiêm năm tới. Các tầng lớp phụ nữ ở thành phố cần chấp hành tốt các chính sách của Đảng và Chính phủ. Chị em làm nghề buôn bán cần giữ đức tính thật thà, đúng đắn, bài trừ tệ “mua rẻ, bán đắt”, tệ “mặc cả, nói thách”. Chị em phụ nữ phải hết sức chăm lo bảo vệ sức khỏe con cái”[8].

Bác dặn nữ nghệ sĩ: “Thanh niên phải gương mẫu trong đoàn kết và kỷ luật”, “Biểu diễn thật hay để phục vụ nhân dân được nhiều là tốt. Nhưng nếu có tư tưởng muốn làm “ngôi sao” thì ngôi sao có khi tỏ, có khi lặn, lúc ngôi sao lặn thì lại buồn. Trong đoàn cháu có thanh niên nào có tư tưởng muốn làm ngôi sao thì các cháu phải giúp đỡ”[9].

5. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắn nhủ phụ nữ phải biết vươn lên để giữ vị trí và thể hiện vai trò của mình trong xã hội, xứng đáng với sự quan tâm của Đảng và Chính phủ.

 Bác đã nhấn mạnh: “Hiện nay trong các ngành, số phụ nữ tham gia còn ít. Đảng và Chính phủ rất hoan nghênh, sẵn sàng cất nhắc và giao cho phụ nữ những chức trách quan trọng. Muốn vậy, bản thân phụ nữ phải: gắng học tập chính trị, học tập văn hóa, học tập kỹ thuật. Nâng cao tinh thần yêu nước và giác ngộ xã hội chủ nghĩa. Hăng hái thi đua thực hiện cần kiệm xây dựng Tổ quốc, xây dựng gia đình. Đoàn kết chặt chẽ, ra sức tham gia sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà và giữ gìn hòa bình thế giới.”[10]

Bác còn có nhắc nhở: “Phụ nữ ta còn có một số nhược điểm như bỡ ngỡ, lúng túng, tự ti, thiếu tin tưởng vào khả năng của mình; mặt khác, phụ nữ cũng gặp nhiều khó khăn về gia đình, con cái. Muốn giải quyết khó khăn không nên ỷ lại vào Đảng, Chính phủ mà phải quyết tâm học tập, phát huy sáng kiến, tin tưởng ở khả năng mình, nâng cao tinh thần tập thể, đoàn kết giúp đỡ nhau để giải quyết mọi khó khăn của phụ nữ trong công tác chính quyền”[11]

6. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn mong muốn đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung và phụ nữ nói riêng luôn không ngừng tu dưỡng đạo đức, phong cách người cách mạng trong cuộc sống và trong công tác từ cách nói, cách làm việc, cách ứng xử.

Tại một hội nghị báo cáo thành tích dân quân, sau khi nghe cô dân quân kết luận: “Có thành tích vì ở địa phương cán bộ thì bám dân, du kích thì bám địch”. Bác cười và sửa cho rõ ràng ý tứ và dễ hiểu hơn: “Cán bộ thì gần dân, du kích thì bám địch mà đánh chứ”.[12]

Một dịp khác, Bác gặp và hỏi thăm một nữ công an được giao tham gia nhiệm vụ bảo vệ đoàn đại biểu phụ nữ nước ngoài và bảo vệ Bác. Chị ấy sử dụng bốn từ “Công an giao cảnh” để nói về nhiệm vụ chỉ đường, thì Bác cười và nói: “Thế thì cháu nói là công an chỉ đường chứ”. Khi Bác hỏi về khả năng sử dụng súng và nhiệm vụ của chị ấy tại hội nghị này thì chị trả lời rằng đến đây làm “cảnh vệ” và xác định mình là “xạ thủ”. Bác nghe xong và góp ý: “Tiếng ta dễ hiểu, các cháu nên dùng tiếng ta, từ “xạ thủ”, “cảnh vệ” nên thay bằng “bắn súng” và bảo vệ”.[13]

Có một dịp tiễn đoàn văn công ra mặt trận, Bác hái tặng mỗi cô một bông hoa trong vườn. Có người muốn được thêm một cái nữa, Bác cười: “Bác chỉ cho mỗi cháu một bông thôi”[14].

Bác nhắc nhở cán bộ phụ nữ: “có cô vận động khéo, đến đâu làm gì, mình làm nấy, thân thiết như người nhà, thì có thành tích. Cô nào không hòa lẫn được với nhân dân, vẫn giữ thói quen thành phố, thì vận động khônh thành công”[15].

Bàn đến phụ nữ là bàn về “một nửa xã hội” như Bác đã nhấn mạnh: “Phụ nữ chiếm một nửa tổng số nhân dân”[16]. Phụ nữ Việt Nam ngày nay mạnh dạn, tự tin, thông minh, sáng tạo là nhờ gìn giữ và phát huy truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” mà Bác đã khen tặng. Quan trọng là nhờ ánh sáng tư tưởng của Người về giải phóng phụ nữ, đấu tranh bình đẳng nam nữ luôn soi chiếu mọi chủ trương, đường lối của Đảng ta về vấn đề phụ nữ.

TS Bùi Thị Ngọc Trang, Phó Giám đốc Học viện Cán bộ TPHCM

Tài liệu tham khảo

Di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch: Bác Hồ với phụ nữ, Nxb Văn hóa Thông tin, 2011.

Doãn Thị Chính: Đạo đức Nho giáo với phụ nữ nông thôn Việt Nam Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị - Hành chính,Hà Nội, 2013.

Hồ Chí Minh: toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.

Hồ Chí Minh: toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.

Hồ Chí Minh: toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.

Hồ Chí Minh: toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

Hồ Chí Minh: toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

Hồ Chí Minh: toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

Thứ Hai, 6 tháng 1, 2025

KỶ NIỆM 75 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG HỌC SINH, SINH VIÊN VÀ HỘI SINH VIÊN VIỆT NAM (09/1/1950 - 09/01/2025)

 KỶ NIỆM 75 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG HỌC SINH, SINH VIÊN VÀ HỘI SINH VIÊN VIỆT NAM (09/1/1950 - 09/01/2025): NHỚ TÌNH CẢM CỦA BÁC HỒ DÀNH CHO HỌC SINH, SINH VIÊN

         Nhân dịp Tết Độc lập đầu tiên, trong thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc, Bác viết: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội…”. Thực tế, Bác luôn coi học sinh, sinh viên là nhân tố hàng đầu, nhân tố quyết định vận mệnh của đất nước sau này.

Sinh thời, Bác Hồ luôn quan tâm chăm lo đến thế hệ trẻ, trong đó sinh viên, học sinh là những “người lao động trí óc trẻ” được Bác chú trọng nhiều. Người thường xuyên thăm hỏi, động viên họ, khuyến khích họ miệt mài học tập và không ngừng tu dưỡng đạo đức cách mạng, để trở thành những người có đức, có tài, đóng góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong hành trình tìm đường cứu nước, tìm con đường giải phóng dân tộc, đem lại tự do hạnh phúc cho đồng bào, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã sớm quan tâm đến “bộ phận quan trọng” này của dân tộc. Trong giai đoạn 1925 -1945, được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giác ngộ, các tổ chức học sinh, sinh viên yêu nước lần lượt ra đời, như Tổ chức Học sinh Đoàn, Đội Ngô Quyền, Tổng Hội Sinh viên đã lãnh đạo phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên dưới ngọn cờ của Đảng và Bác Hồ kính yêu.

Người đã cổ vũ, cuốn hút những thanh niên, sinh viên Việt Nam, đưa họ đến với cách mạng bằng chính những năm tháng tuổi trẻ đầy nhiệt huyết cách mạng và khát khao đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào của mình. Khi nước nhà chưa giành được độc lập, từ điều kiện cụ thể của Việt Nam, một đất nước với hơn 90% dân số là nông dân, đa phần là mù chữ, Người đã bằng những hoạt động thiết thực của mình, tuyên truyền, khuyến khích và tạo điều kiện giúp họ được học hành để góp sức cho cách mạng. Ngày 28/01/1941, Người bí mật về nước để cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo phong trào Cách mạng Việt Nam. Được sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng, cuộc vận động hình thành Tổng Hội Sinh viên hoạt động công khai nhằm liên kết lực lượng sinh viên yêu nước. Cùng với sự phát triển của phong trào sinh viên, phong trào học sinh các trường trung học ngoài Bắc, trong Nam cũng phát triển ngày càng mạnh bởi được ảnh hưởng của cuộc đấu tranh chung do Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc hướng dẫn.

Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành thắng lợi hoàn toàn. Đó là thành quả to lớn của cuộc đấu tranh lâu dài, đầy gian khổ, hy sinh, trong đó các tầng lớp thanh niên, học sinh, sinh viên có nhiều đóng góp xứng đáng, với biết bao tấm gương anh dũng, kiên cường đã được khắc ghi vào lịch sử dân tộc.

Sinh thời, Bác đã nhiều lần nói chuyện trực tiếp với sinh viên đang học tập trong nước, ở nước ngoài và sinh viên các nước đến dự hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế tại Việt Nam. Qua những buổi nói chuyện đó, Người đã dành nhiều lời dạy bảo với tình thương bao la, gần gũi đối với thanh niên, học sinh. Đặc biệt, Người luôn căn dặn học sinh, sinh viên cần chủ động, tích cực học tập và tu dưỡng đạo đức.

Về việc học tập, Bác yêu cầu sinh viên: “Phải hiểu rõ học thế nào? Học cái gì? Học để làm gì?”. Tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II, ngày 7/5/1958, Bác nhấn mạnh: “Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt hai câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát thì mới có phương hướng”.

“Học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và quân sự” và “Học để phụng sự ai? Để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh, tức là để làm tròn nhiệm vụ người chủ của nước nhà”. Bác nhắc nhở học sinh, sinh viên Việt Nam rằng: “Làm nghề gì cũng phải học” và mục đích của việc học là để “nâng cao năng lực làm cho kinh tế phát triển, chiến đấu thắng lợi, đời sống nhân dân càng no ấm, vui tươi”. Điều đó có nghĩa rằng ngay cả đối với một bộ phận thanh niên không theo học đại học, cao đẳng, thì việc học cũng luôn là việc hết sức quan trọng.

Ngoài việc học tập, trau dồi kiến thức, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn căn dặn thế hệ trẻ phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất, đạo đức, lối sống. Bác nhấn mạnh: “Có tài mà không có đức là người vô dụng”. “Đức”, ở đây như Bác nói là đạo đức, đạo lý làm người mà với thời đại chúng ta, Bác yêu cầu rèn luyện để có đạo đức cách mạng.

Từ tuổi trẻ của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu và đồng cảm với thanh niên sinh viên. Tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II, Người khuyên sinh viên hãy thực hiện “6 cái yêu”. Theo Người, 6 điều đó, vừa thể hiện rõ tinh thần và quyết tâm của tuổi trẻ, vừa là cái đích để mỗi sinh viên, học sinh hướng tới và phấn đấu.

1.                 Đó là yêu Tổ quốc và “phải làm sao cho Tổ quốc ta giàu mạnh”. Luận giải điều vĩ đại này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cắt nghĩa rất giản dị: Để “Tổ quốc ta giàu mạnh thì phải ra sức lao động, ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”.

2.                 Đó là yêu nhân dân và muốn làm được như vậy, “phải hiểu rõ sinh hoạt của nhân dân, biết nhân dân còn cực khổ như thế nào, biết chia sẻ những lo lắng, những vui buồn, những công tác nặng nhọc với nhân dân”. Đây đồng thời cũng là thực hiện mối quan hệ gần dân, lắng nghe ý kiến của dân, gắn bó máu thịt với nhân dân.

3.                 Đó là yêu CNXH, vì chỉ “có tiến lên CNXH thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm”.

4.                 Đó là yêu lao động. Theo Người, “muốn thật thà yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu CNXH thì phải yêu lao động”, vì lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là trách nhiệm của mỗi người. Một người trí thức nói yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu CNXH mà không yêu lao động, thì đó “chỉ là nói suông”.

5.                 Đó là yêu khoa học và kỷ luật, bởi “tiến lên CNXH thì phải có khoa học và kỷ luật”.

Cuối cùng, Người kết luận: Bây giờ là thời đại của khoa học phát triển rất mạnh, là thời đại của CNXH và là thời đại của anh hùng, vì vậy mà “mỗi người lao động tốt đều có thể trở thành anh hùng” và 6 là: “Mong các cháu cũng làm người thanh niên anh hùng trong thời đại anh hùng”.

Suốt những năm tháng của cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho các thế hệ trẻ Việt Nam tình yêu thương bao la, sâu sắc nhất. Người đã khẳng định: Thanh niên là chủ nhân tương lai của nước nhà…Chính vì thế, việc chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ luôn là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của toàn xã hội, “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có những con người xã hội chủ nghĩa, tức là phải có những người có đạo đức xã hội chủ nghĩa”.

Bác kính yêu đã mãi đi xa nhưng những di huấn của Người dành cho học sinh - sinh viên Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị. Những di huấn này là tình cảm, là tư tưởng, là lời dạy, là định hướng cho lớp người sẽ làm chủ tương lai của đất nước và đó cũng luôn là kim chỉ nam cho các thế hệ thanh niên sinh viên Việt Nam hiện nay luôn cố gắng phấn đấu học tập và rèn luyện đạo đức theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người.

Hiện nay, thanh niên, học sinh, sinh viên Việt Nam ngày càng thể hiện rõ vai trò của mình trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Thế hệ học sinh, sinh viên Việt Nam hôm nay đã tự tin, tự chủ hơn nhiều trong học tập và tu dưỡng; thực sự là những người được đào tạo chuyên môn, nắm vững khoa học kỹ thuật, có đạo đức cách mạng, tinh thần giác ngộ XHCN và tinh thần quốc tế vô sản cao cả. Những phong trào: Sinh viên tình nguyện, Tiếp ứng mùa thi, Vòng tay nhân ái... những sẻ chia của họ đối với nhau, đối với cộng đồng, những gương sáng sinh viên nghèo vượt khó, những sinh viên đạt giải cao tại các kỳ thi học sinh giỏi quốc tế về học thuật, về âm nhạc,... đã thực sự làm cho những mong mỏi, những tâm huyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm xưa toả sáng trong thực tiễn. Học sinh, sinh viên Việt Nam đã và đang đóng vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập quốc tế để Việt Nam từng bước vươn mình "sánh vai" cùng các nước trên thế giới./.

Huyền Anh (Tổng hợp)

Thứ Hai, 23 tháng 12, 2024

KỶ NIỆM 80 NĂM NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM (22/12/1944 - 22/12/2024) VÀ 35 NĂM NGÀY HỘI QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN (22/12/1989 - 22/12/2024)

 DANH HIỆU BỘ ĐỘI CỤ HỒ TRUYỀN CẢM HỨNG VỀ TÌNH YÊU NƯỚC VÀ NIỀM TỰ HÀO VỀ LÃNH TỤ HỒ CHÍ MINH

Danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ chứa đựng giá trị tinh thần sâu sắc, kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và cũng là bản sắc của văn hóa Việt Nam. Việc bảo tồn và phát huy giá trị danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ không chỉ là việc làm cần thiết để duy trì, phát huy truyền thống mà còn là nhiệm vụ quan trọng để bảo đảm sự phát triển bền vững của Quân đội và đất nước trong tương lai.

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khoa học quốc gia “Liên kết phát triển du lịch Chiến khu Việt Bắc”, chúng tôi-thế hệ con cháu của những người vinh dự được theo chân Bác Hồ đi khắp núi rừng Việt Bắc trong kháng chiến chống thực dân Pháp-nay lại có dịp được đi khảo sát, nghiên cứu, tìm hiểu kỹ về lịch sử, đất và người vùng Chiến khu Việt Bắc.

Qua thực tế, chúng tôi nhận thấy tình cảm, sự gắn bó rất sâu nặng của người dân nơi đây với cách mạng, với Chính phủ kháng chiến, với Bác Hồ và Bộ đội Cụ Hồ. Điều đặc biệt là dù Bác đi xa đã 55 năm nhưng chúng tôi vẫn thấy danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ được đồng bào trìu mến, thân thương gọi các chiến sĩ Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam.

Với lòng kính yêu Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tình cảm và sự trân trọng Bộ đội Cụ Hồ, chúng tôi đã đi tìm hiểu về danh xưng, danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ.

Bộ đội Cụ Hồ - danh xưng trìu mến, phẩm chất cao quý

“Bộ đội” là các chiến sĩ QĐND Việt Nam do Đảng và Bác Hồ thành lập, rèn luyện và lãnh đạo. "Cụ Hồ" là cách gọi thân mật và kính trọng của nhân dân dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.

"Bộ đội Cụ Hồ" là danh xưng đồng bào gọi các chiến sĩ QĐND Việt Nam, xuất phát từ lòng kính yêu, tin tưởng của nhân dân đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ tối cao của cách mạng Việt Nam và QĐND Việt Nam. Chính tác phong giản dị, gần gũi và tư tưởng, đạo đức cách mạng của Người mà hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ dần hình thành và trở nên quen thuộc trong lòng nhân dân. Bên cạnh đó, QĐND Việt Nam cũng luôn thể hiện tinh thần, phẩm chất cao quý của người lính Cụ Hồ: Kiên cường, bất khuất, hy sinh vì độc lập dân tộc, gắn bó mật thiết với nhân dân và luôn giữ vững đạo đức cách mạng. Kết hợp hai yếu tố trên, danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ được nhân dân gọi một cách tự nhiên, thể hiện sự yêu quý, thân thương và gần gũi của nhân dân với các chiến sĩ QĐND Việt Nam.

Tuy không phải là danh hiệu chính thức do Nhà nước ban hành nhưng danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ đã trở thành một biểu tượng thiêng liêng và tự hào của QĐND Việt Nam. Bộ đội Cụ Hồ không chỉ là danh hiệu mà còn là niềm tự hào, biểu tượng cho đạo đức và phẩm chất của người lính trong suốt cuộc kháng chiến cũng như trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Danh xưng, danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ gắn liền với Chiến khu Việt Bắc, nơi Bác Hồ và Chính phủ kháng chiến lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp. Tinh thần, ý chí, sức mạnh của Bộ đội Cụ Hồ đã được khẳng định qua các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, QĐND Việt Nam đã lập nên những chiến công hiển hách, mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972 và kết thúc bởi thắng lợi vĩ đại của Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975.

Bộ đội Cụ Hồ là những chiến sĩ của QĐND Việt Nam-“Trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, là đội quân luôn trung thành với lý tưởng cách mạng, đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết. Bộ đội Cụ Hồ luôn sẵn sàng chiến đấu và hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, nên một trong những đặc điểm nổi bật của Bộ đội Cụ Hồ là sự gắn bó chặt chẽ với nhân dân, luôn gần gũi, yêu thương và giúp đỡ nhân dân, tạo nên mối quan hệ quân dân bền chặt.

Bộ đội Cụ Hồ không chỉ là những chiến binh dũng cảm trên chiến trường mà còn là những con người có đạo đức, nhân cách cao quý. Họ luôn giữ vững phẩm chất đạo đức, sống giản dị, chân thành, giúp đỡ đồng bào, làm tròn nghĩa vụ của một người lính cách mạng. Bộ đội Cụ Hồ có kỷ luật nghiêm minh và tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau vượt qua khó khăn; biết sử dụng những nguồn lực sẵn có để chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

Ý nghĩa sâu sắc của danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ

Ra đời và gắn liền với truyền thống đấu tranh anh hùng của dân tộc Việt Nam thế kỷ 20, danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ thể hiện ở 3 khía cạnh cơ bản sau:

Thứ nhất, biểu tượng của lòng dũng cảm và ý chí quyết tâm: Bộ đội Cụ Hồ là biểu tượng của lòng dũng cảm và quyết tâm chiến đấu đến cùng vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Họ là hiện thân của tư tưởng "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", tinh thần bất khuất trước mọi kẻ thù xâm lược.

Thứ hai, gắn liền với những chiến công lịch sử: Danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ được xây dựng và tôn vinh qua những chiến thắng lịch sử quan trọng, từ Chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Những chiến công này đã khắc sâu vào truyền thống anh hùng của dân tộc, ghi dấu trong lòng mỗi người dân Việt Nam.

Thứ ba, niềm tự hào và nguồn cảm hứng: Bộ đội Cụ Hồ không chỉ là niềm tự hào của riêng Quân đội mà còn là niềm tự hào chung của dân tộc. Danh hiệu này truyền cảm hứng cho các thế hệ tiếp nối, không chỉ trong lĩnh vực quân sự mà còn trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thúc đẩy tinh thần vượt khó, sáng tạo và cống hiến. Sự dũng cảm, mưu lược và lòng trung thành của Bộ đội Cụ Hồ đã trở thành biểu tượng không chỉ trong lòng người dân Việt Nam mà còn được bạn bè quốc tế ngưỡng mộ.

Bảo tồn và phát huy danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ

Bộ đội Cụ Hồ đã trở thành biểu tượng của lòng kiên cường và quyết tâm giành độc lập dân tộc. Danh hiệu cao quý đó mang đậm tính nhân văn và phản ánh tinh thần dân tộc sâu sắc, gắn kết Quân đội với nhân dân. Danh hiệu đó luôn đi cùng với các chiến sĩ trong suốt quá trình hình thành, xây dựng và phát triển của QĐND Việt Nam.

Với giá trị đặc sắc, độc đáo và ý nghĩa to lớn của danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ, chúng tôi cho rằng, chúng ta cần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, ý nghĩa nhân văn của danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ và nên đề xuất để công nhận danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Được công nhận như vậy sẽ có tác dụng nhiều mặt:

Một là, bảo tồn, phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa của dân tộc và cách mạng: Danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ không chỉ là một danh xưng mà còn là một biểu tượng của tinh thần cách mạng, sự hy sinh và lòng trung thành đối với Tổ quốc. Bảo tồn danh hiệu này giúp duy trì và tôn vinh những giá trị lịch sử, văn hóa mà nó đại diện.

Hai là, giáo dục truyền thống yêu nước, cách mạng cho người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ: Danh hiệu này là nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho thế hệ trẻ, khuyến khích họ noi gương tinh thần trách nhiệm, lòng dũng cảm và sự cống hiến của các thế hệ đi trước. Việc bảo tồn, phát huy giá trị danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ giúp "truyền lửa" cho các thế hệ tiếp theo để họ tiếp tục phấn đấu và cống hiến cho đất nước.

Ba là, bảo đảm sự kế thừa và phát triển Quân đội: Danh hiệu này gắn liền với sự hình thành, xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và phát triển của QĐND Việt Nam. Bảo tồn danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ là bảo tồn bản sắc, tinh thần và truyền thống tốt đẹp của Quân đội, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của Quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, xây dựng niềm tin và tự hào dân tộc: Việc phát huy giá trị danh hiệu này cũng góp phần xây dựng niềm tin và sự tự hào trong lòng nhân dân về sức mạnh, tinh thần đoàn kết và sự kiên cường của QĐND Việt Nam. Điều này không chỉ quan trọng trong thời kỳ chiến tranh mà còn trong thời bình, khi đất nước cần sự ổn định và phát triển bền vững.

Năm là, cổ vũ và gắn liền với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh: Danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ đã, đang và sẽ tiếp tục là hình mẫu, biểu tượng sinh động thiết thực thúc đẩy mọi người noi theo những giá trị tốt đẹp của Bác Hồ và Bộ đội Cụ Hồ.

Tựu trung lại, có thể khẳng định rằng, danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ chứa đựng giá trị tinh thần sâu sắc, kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và cũng là bản sắc của văn hóa Việt Nam. Đó không chỉ là biểu tượng của lòng yêu nước mà còn là sự kết hợp độc đáo giữa Quân đội và nhân dân, giữa chiến đấu và xây dựng, giữa đạo đức và tinh thần cách mạng, là biểu tượng quan trọng trong lịch sử và văn hóa Việt Nam, gắn liền với tinh thần chiến đấu anh dũng và lòng yêu nước của QĐND Việt Nam. Bảo tồn và phát huy giá trị danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ không chỉ là việc làm cần thiết để duy trì, phát huy truyền thống mà còn là nhiệm vụ quan trọng để bảo đảm sự phát triển bền vững của Quân đội và đất nước trong tương lai./.

Theo Báo Quân đội nhân dân

Thứ Hai, 25 tháng 11, 2024

 BÁC HỒ VỚI "TẾT TRỒNG CÂY"

Tết Canh Tý năm 1960, trong không khí sôi nổi mừng Đảng, mừng xuân, sáng ngày 11/01/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đồng bào Thủ đô đã trồng cây ở Công viên Hồ Bảy Mẫu (nay là Công viên Thống Nhất), mở đầu cho một phong trào mới tốt đẹp vào dịp Tết Nguyên đán cổ truyền của dân tộc - Tết trồng cây.

Trước đó, ngày 28/11/1959, hướng tới kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng và đón Tết cổ truyền của dân tộc, với bút danh Trần Lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Tết trồng cây” đăng trên Báo Nhân Dân, chính thức khởi xướng, phát động phong trào Tết trồng cây. Người mong muốn đây là một trong các hoạt động thiết thực kỷ niệm Ngày thành lập Đảng vào dịp đầu xuân mới.

Bác viết hai câu thơ:

“Mùa xuân là Tết trồng cây,

Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”.

Bác khuyên khi mùa xuân tới, mỗi người nên trồng một cây xanh để góp phần làm cho quê hương, đất nước ngày càng tươi đẹp. Bác nói: Mùa xuân là Tết trồng cây không có nghĩa là mọi người chỉ trồng cây trong mấy ngày Tết mà trồng cây suốt cả mùa xuân. Bác gọi phong trào trồng cây là “Tết trồng cây” với hàm ý so sánh không khí náo nức tưng bừng của nó chẳng khác chi ngày Tết…

Cứ mỗi độ tết đến xuân về, Bác đi thăm và tham gia trồng cây với người dân.  Người đặc biệt lưu ý phải liên hệ chặt chẽ “Tết trồng cây” với kế hoạch trồng cây gây rừng. Người viết: “Có nơi nhầm cho rằng Tết trồng cây chỉ một đợt và một năm thôi, chứ không hiểu rằng Tết trồng cây cũng là một kế hoạch kinh tế lâu dài và liên tục…”, “Sở dĩ Tết trồng cây đã trở nên một phong trào quần chúng mạnh mẽ, là vì mọi người đều thấy lợi ích thiết thực và lâu dài của nó”. Trong bài viết cuối cùng của mình về Tết trồng cây ngày 05/02/1969, Bác nhắc tới “ích lợi to lớn cho kinh tế quốc phòng” của việc trồng cây gây rừng, và nhắc nhở “đồng bào các địa phương phải biến đồi trọc thành vườn cây”.

Ngày mùng một Tết Kỷ Dậu (16/02/1969), trong mùa xuân cuối cùng của cuộc đời, Bác đã tự tay trồng một cây đa trên đồi cây xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Trong bản Di Chúc mà Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, Bác Hồ cũng không quên nhắc nhở nhân dân ta phải tiếp tục công việc trồng cây gây rừng: “Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây hoa làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho công nghiệp”.

Có thể thấy, những lời căn dặn của Người về “Tết trồng cây” là bài học lớn của Bác để lại cho thế hệ sau về cách sống gần gũi với thiên nhiên, bảo vệ tài nguyên môi trường, về phát triển bền vững, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước nhưng phải luôn giữ được màu xanh cây cỏ, vì chất lượng cuộc sống của người dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã đi xa, đất trời đã bước vào nhiều mùa xuân mới. Tết trồng cây đã trở thành một truyền thống tốt đẹp được nhân dân ta gìn giữ và phát triển. Phong trào trồng cây, gây rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc luôn được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta ra sức hưởng ứng bằng nhiều hành động cụ thể, mang lại hiệu quả thiết thực. Các cơ quan, đơn vị, địa phương đã vận động cán bộ, đảng viên, nhân dân, thanh niên, học sinh hưởng ứng bằng việc tham gia trồng cây nơi công sở, trường học, nhà văn hóa thôn… góp phần làm đẹp cảnh quan, tạo môi trường sống ngày càng xanh, sạch, đẹp./.

 

Kiều Trang

KỶ NIỆM 94 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN (26/3/1931 – 26/3/2025)

  Nhớ những lời dạy của Bác Hồ dành cho thanh niên Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại luôn dành những...