Hiển thị các bài đăng có nhãn TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 22 tháng 7, 2024

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC THƯƠNG BINH, LIỆT SĨ

 


NHÂN KỶ NIỆM 77 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH - LIỆT SĨ

(27/7/1947 - 27/7/2024)

 Tình cảm của Bác Hồ đối với thương binh, liệt sĩ (TBLS) là biểu hiện cụ thể của truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc: “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”; đồng thời, là tình cảm và trách nhiệm của Đảng, Nhà nước ta đối với những người đã cống hiến, hy sinh cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc.

 Ngay từ những ngày đầu chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mong muốn hằng năm có một ngày dành cho TBLS. Theo đề nghị của Hồ Chủ tịch, giữa tháng 6-1947, hội nghị các ngành của Trung ương và đại diện các địa phương họp tại Đại Từ, Thái Nguyên, đã nhất trí lấy ngày 27 tháng 7 hằng năm là Ngày Thương binh toàn quốc. Đến năm 1955, đổi thành Ngày TBLS. Ngày 27-7-1947 là Ngày TBLS đầu tiên của nước ta.

Bác nói: “Ngày 27 tháng 7 là một dịp cho đồng bào ta tỏ lòng hiếu nghĩa, bác ái đối với thương binh và gia đình liệt sĩ”. Bác đau xót vô ngần mỗi khi biết tin một chiến sĩ hy sinh. Trong bức thư gửi Bác sĩ Vũ Đình Tụng (1-1947), Bác viết những lời thống thiết: “Tôi được báo cáo rằng, con giai ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc. Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam... Đồng bào và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên ơn họ”.

Mỗi dịp kỷ niệm Ngày TBLS, Bác Hồ lại gửi thư tới Bộ trưởng Bộ Thương binh - Cựu binh (tiền thân của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ngày nay) nhắc nhở việc đẩy mạnh công tác chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và nhiều lần Bác đã gửi tặng một tháng lương của mình cùng quần áo các đoàn thể tặng Bác để làm quà tặng cho các thương binh và gia đình liệt sĩ tiêu biểu.

Tại lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng (3-2-1960), Bác xúc động nói: “Máu đào của các liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do.. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta”.

Bác căn dặn: Việc chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với đất nước “là một nghĩa vụ của nhân dân”, chứ không phải là “việc làm phúc”.

Trong “Thư gửi cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh - Cựu binh”, ngày 27-7-1954, Bác biểu dương và nhắc nhở các đoàn thể ở các xã: “Nhiều nơi đã hăng hái đón thương binh, bệnh binh về xã, giúp đỡ anh em làm ăn và đã chiếu cố chu đáo các gia đình liệt sĩ. Thế là rất tốt. Đó là một cách để tỏ lòng nhân dân biết ơn những chiến sĩ đã có công giữ nước, giữ làng. Song, việc giúp đỡ ấy cần phải thiết thực, cần có tổ chức và mọi người trong xã đều cần tùy theo khả năng mà tham gia”.

Ngày 17-7-1956, Bác gửi thư cho thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ; trong đó, Bác nhắc nhủ đồng bào: “Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân và gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Cho nên bổn phận chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu và giúp đỡ họ”.

Khi viết bản “Di chúc” (phần bổ sung), Bác nêu rõ trách nhiệm của Đảng và Nhà nước về công tác TBLS: “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong...), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần tự lực cánh sinh. Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta. Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu thì chính quyền địa phương (...) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”.

Bác Hồ hết lòng yêu thương, chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với nước; nhưng Bác không quên nhắc nhở thương binh, gia đình liệt sĩ phải luôn luôn thể hiện những phẩm chất tốt đẹp sẵn có, để xứng đáng với  sự quan tâm và lòng biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Trong “Thư gửi cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh - Cựu binh nhân ngày Thương binh – Liệt sĩ, 27-7-1952”, Bác căn dặn anh em thương binh, bệnh binh: “ - Phải hòa mình với nhân dân, tôn trọng nhân dân, tránh phiền nhiễu nhân dân/ - Phải tránh tâm lý “công thần”, coi thường lao động, coi thường kỷ luật/ - Chớ bi quan, chán nản. Phải luôn luôn cố gắng/ Trước kia, anh em đã xung phong diệt giặc thì ngày nay anh em sẽ tùy điều kiện mà xung phong tăng gia sản xuất”.

Ngày TBLS năm 1954, Bác lại có “Thư gửi cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh - Cựu binh” nhắc nhở việc đẩy mạnh hơn nữa công tác TBLS và căn dặn: “Các thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ cần phải biết ơn sự săn sóc của đồng bào; cần phải cố gắng tăng gia sản xuất, tự lực cánh sinh, tùy theo khả năng mà tham gia các công tác trong xã, chớ nên yêu cầu quá đáng, ra vẻ “công thần”. Bác động viên các thương binh: “Tàn mà không phế”, phấn đấu trở thành những “Công dân kiểu mẫu”, động viên các gia đình TBLS phấn đấu để trở thành các “Gia đình cách mạng gương mẫu”!.

Tư tưởng và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác TBLS thể hiện lòng yêu nước, thương dân sâu sắc của Người. Tư tưởng và tình cảm ấy đã trở thành các chủ trương, chính sách, các chỉ thị của Đảng, Nhà nước đối với TBLS và những người có công với nước. Ban Bí thư Trung ương Đảng có Chỉ thị số 68-CT/TƯ, ra ngày 15-7-1985 về “Tăng cường chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng”.

Hiện nay, cả nước có trên 9 triệu người đang hưởng chế độ ưu đãi (chiếm 10% dân số cả nước); trong đó hơn 4 triệu người hưởng chế độ trợ cấp ưu đãi kháng chiến, trên 2 triệu người hưởng chế độ thân nhân của người có công mất trước năm 1995. Nhà nước đã phong tặng và truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng cho 46.770 bà mẹ liệt sĩ, tiếp tục truy tặng và phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho cán bộ, chiến sĩ có công lớn trong kháng chiến và kiến quốc.

Các tổ chức xã hội xây dựng hơn 343.000 nhà Tình nghĩa và hàng vạn sổ tiết kiệm trao tặng các thương binh và gia đình liệt sĩ. Nhiều gia đình thương binh và gia đình liệt sĩ đã trở thành những “Gia đình cách mạng gương mẫu”. Nhiều cựu chiến binh làm kinh tế giỏi. Lực lượng cựu chiến binh hùng hậu và đáng tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân đang tiếp tục đóng góp công sức trong công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước và hội nhập quốc tế. Đấy là sức lan tỏa to lớn của tư tưởng, tình cảm của Bác Hồ đối với công tác TBLS.

Theo Báo Biên Phòng  


Thứ Hai, 8 tháng 7, 2024

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC, GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA

Con đường cứu nước, giải phóng dân tộc đúng đắn, sáng tạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh không chỉ mở lối, chỉ đường giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, mà còn là cơ sở, nền tảng để dân tộc ta, đất nước ta phát triển, trường tồn. Vì vậy, vận dụng tư tưởng của Người vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là vấn đề quan trọng, cấp thiết trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Thấu hiểu cảnh nước mất, nhà tan, cả dân tộc bị dìm trong lầm than, nô lệ, ngày 05/ 6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân thay vì ngồi chờ ngoại viện như các vị tiền bối. Và đích đến đầu tiên của Người là mẫu quốc để “... xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về để giúp đồng bào chúng ta”1.

Với hành trình đó, đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Tại đây, lấy tên gọi Nguyễn Ái Quốc, Người đã gửi “Bản yêu sách 8 điểm” tới Hội nghị Versailles, đòi những quyền dân tộc tự quyết, nhưng không được chấp nhận. Người hiểu rằng: “... muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”2. Trong hành trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đi đến nhiều nơi, nghiên cứu, tìm hiểu nhiều trào lưu, nhiều cuộc cách mạng trên thế giới, như: cách mạng Mỹ (1776), cách mạng Pháp (1789),... và Người phát hiện đó là “những cuộc cách mạng không đến nơi”, chỉ phục vụ lợi ích cho thiểu số người giàu, còn giai cấp công nhân và các giai tầng khác vẫn sống trong cảnh nghèo khổ.

Sau gần 10 năm tìm kiếm, khảo nghiệm, tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được tác phẩm “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin và nhận thấy: “Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”3. Điều này làm chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm thấy ở đây lý luận cách mạng, khoa học - con đường cứu nước đúng đắn, gắn liền sự nghiệp giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóng con người một cách triệt để nhất.

Với trải nghiệm thực tế và tư duy độc lập, sáng tạo, Nguyễn Ái Quốc luôn nuôi dưỡng ý chí đấu tranh và phát triển đất nước theo con đường mới - con đường xã hội chủ nghĩa. Từ năm 1921 - 1930 là thời kỳ Nguyễn Ái Quốc ra sức tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin về trong nước, bắt đầu một thời kỳ hoạt động cách mạng sôi nổi, học tập và nghiên cứu về chủ nghĩa Mác - Lênin, về chế độ xã hội chủ nghĩa trên đất nước Xô-viết - quê hương của V.I.Lênin vĩ đại. Tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc rời nước Pháp sang Liên Xô tiếp tục sự nghiệp đấu tranh cách mạng theo con đường của chủ nghĩa Mác - Lênin và Quốc tế Cộng sản. Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh Niên - tổ chức cách mạng có khuynh hướng cộng sản; ra báo Thanh Niên để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về trong nước, đồng thời mở các lớp huấn luyện cán bộ cho cách mạng Việt Nam. Những bài viết của Người được tập hợp, xuất bản thành cuốn sách Đường Kách mệnh có giá trị lý luận sâu sắc, đem đến cho dân tộc ta con đường cách mạng đúng đắn, đấu tranh giải phóng khỏi ách nô lệ, tiến tới xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau khi chuẩn bị cẩn trọng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, mùa Xuân năm 1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mở ra bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Đây là điều kiện tiên quyết đảm bảo sự thắng lợi của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta.

Sau 30 năm bôn ba trở về nước, tháng 5/1941, Người chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 tại Pác Bó (Cao Bằng), quyết định “thay đổi chiến lược” cách mạng giải phóng dân tộc: đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; sáng lập Mặt trận Việt Minh để tổ chức vận động, tập hợp lực lượng cách mạng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc; tiến hành xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng; chuẩn bị lực lượng, chờ thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền. Hưởng ứng Lời kêu gọi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, với quyết tâm: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”, tháng Tám năm 1945 nhân dân ta đã nhất tề đứng lên Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền, thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thắng lợi vĩ đại đó là thắng lợi của hành trình khát vọng thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - “kỷ nguyên độc lập, tự do của Tổ quốc, kỷ nguyên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”4.

Kế thừa, vận dụng giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Đảng ta luôn quan tâm nghiên cứu, phát triển lý luận, tổng kết thực tiễn; đồng thời, vận dụng sáng tạo trong suốt tiến trình cách mạng nước ta cũng như trong từng giai đoạn lịch sử, được thể hiện trên một số vấn đề cốt lõi.

Thứ nhất, luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây là sự nhất quán trong tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh từ khi Người tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh đạo cách mạng qua nhiều giai đoạn khác nhau. Khi Đảng ra đời, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc xác định rõ mục tiêu: “Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập”5 để đi tới xã hội cộng sản. Với tư tưởng xuyên suốt là độc lập dân tộc, trong giai đoạn 1939 - 1945, các hội nghị Trung ương Đảng chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và độc lập trên hết, Tổ quốc trên hết. Từ đó đoàn kết, phát huy sức mạnh của toàn thể dân tộc Việt Nam làm nên thắng lợi của cách mạng Tháng Tám bằng tinh thần, ý chí “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và xây dựng cơ sở vật chất ban đầu cho chủ nghĩa xã hội, Đảng ta xác định bảo vệ vững chắc nền độc lập mới giành được, tiếp tục cách mạng giải phóng dân tộc, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi với Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đầy khó khăn, thử thách, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, được thể hiện ở đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Trong thời kỳ này, chủ nghĩa xã hội trở thành mục tiêu trực tiếp, việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc là nhiệm vụ tối cao, huy động mọi giai cấp, tầng lớp để thực hiện với tinh thần “Mỗi người làm việc bằng hai”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”,... bảo đảm chi viện cho chiến trường miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Đất nước hoàn toàn được độc lập, thống nhất. Từ năm 1975 đến nay, nhiệm vụ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được thể hiện trong việc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, trong giai đoạn đổi mới toàn diện đất nước từ năm 1986, Đảng ta đổi mới tư duy, từng bước xác định đúng mô hình đặc trưng của chủ nghĩa xã hội với 6 đặc trưng trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (tháng 6/1991) và 8 đặc trưng trong Cương lĩnh xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bổ sung, phát triển (2011). Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục xác định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;...”6. Như vậy, sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được thể hiện ngay trong đường lối lãnh đạo của Đảng và những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực sau gần 40 năm đổi mới đất nước. Điều đó khẳng định chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Thấm nhuần sâu sắc giá trị của lý luận cách mạng, khoa học, Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, đẩy mạnh, xây dựng chỉnh đốn Đảng, nhất là trong công cuộc đổi mới đất nước. Trong những năm qua, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tổ chức nhiều hội nghị, ban hành nhiều nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, như: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa VII) về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 lần 2 (khóa VIII) về “Một số vấn đề cơ bản và cấp bách về công tác xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) đã có sự bổ sung, đổi mới rất căn bản về phạm vi và nội dung, bao gồm toàn bộ các vấn đề “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Tại các nhiệm kỳ đại hội của Đảng, nhất là Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “...phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”7. Đồng thời, ban hành đồng bộ hệ thống văn bản nhằm xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện. Những quy định của Đảng được thực hiện quyết liệt từ Trung ương đến các địa phương với quan điểm kịp thời thay thế những cán bộ bị kỷ luật, năng lực hạn chế, uy tín giảm sút mà không chờ đến hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm. Công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng được thực hiện kịp thời, nghiêm minh, làm trong sạch bộ máy lãnh đạo của Đảng ở các cấp. Tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, đã thi hành kỷ luật 105 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 22 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng8. Có thể khẳng định rằng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã được thực hiện quyết liệt, đồng bộ, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân, củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng, niềm tin của nhân dân đối với Đảng, góp phần quan trọng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế của đất nước.

Thứ ba, phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường trong công tác quốc phòng, an ninh. Quán triệt sâu sắc tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn xác định củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ rất quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, làm cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”9. Theo đó, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc được thực hiện bằng sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước; luôn kiên định nguyên tắc chiến lược, linh hoạt về sách lược, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán thực hiện chính sách quốc phòng hòa bình và tự vệ, thực hiện “bốn không”, được cụ thể hóa thông qua hệ thống các văn bản, như: Luật Quốc phòng, Sách Trắng quốc phòng Việt Nam 2019, Chiến lược Quốc phòng Việt Nam, Chiến lược Quân sự Việt Nam, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, v.v. Hoạt động đối ngoại quốc phòng được thực hiện linh hoạt, mềm dẻo dựa trên nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, tăng cường mở rộng hợp tác quốc phòng với tất cả các nước. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ quốc phòng với hơn 100 quốc gia, bao gồm 5 nước là Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các cường quốc trên thế giới, khẳng định vị thế, uy tín của đất nước, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, góp phần hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc./.

DƯƠNG MINH HUỆ,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(Theo Tạp chí Quốc phòng toàn dân)

 

1 - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng – Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Tập 1, Nxb CTQG, H. 2016, tr. 21.

2 - Trần Dân Tiên – Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Văn học, H. 1989, tr. 30.

3 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 12, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 562.

4 - Sđd, Tập 15, tr. 630.

5 - Đảng Cộng sản Việt Nam – Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 2, Nxb CTQG, H. 2002, tr. 2.

6 - Đảng Cộng sản Việt Nam – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb CTQGST, H. 2021, tr. 109.

7 - Sđd, tr. 180.

8 - https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/ky-luat-602-dang-vien-thuc-hien-luan-chuyen-nhan-su-da-duoc-uy-ban-kiem-tra-trung-uong-xem-xet-119240412145726841.htm

9 - Đảng Cộng sản Việt Nam – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập1, Nxb CTQGST, H. 2021, tr. 156.

 

 

 

Thứ Hai, 21 tháng 8, 2023

KỶ NIỆM 78 NĂM NGÀY CÁCH MẠNG THÁNG TÁM THÀNH CÔNG (19/8/1945 – 19/8/2023) VÀ NGÀY QUỐC KHÁNH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM (02/9/1945 – 02/9/2023)

 

BÀI HỌC DĨ BẤT BIẾN, ỨNG VẠN BIẾN

TỪ QUỐC KHÁNH 2-9

 

Trong tình hình thế giới phức tạp hiện nay, nghệ thuật dĩ bất biến, ứng vạn biến của những ngày Quốc khánh càng cần được phát huy.

Để giành và giữ nền độc lập non trẻ những năm 1945 – 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ứng dụng nhuần nhuyễn nguyên tắc dĩ bất biến, ứng vạn biến. GS – TS Võ Văn Sen, Ủy viên Hội đồng lý luận Trung ương, Chủ tịch Hội khoa học lịch sử TP.HCM đã chia sẻ về giá trị của bài học này cho hôm nay và mai sau:

Dĩ bất biến, ứng vạn biến là vận dụng phép biện chứng vào xử lý các vấn đề. Dĩ bất biến là xác định và đứng trên nguyên tắc. Ứng vạn biến là trên cơ sở nguyên tắc phải có những ứng xử linh hoạt. Trong cuộc cách mạng tháng Tám, điều quan trọng nhất là giành chính quyền. Từ đó xác định đâu là kẻ địch chủ yếu trước mắt. Khi Nhật mới vào Đông Dương năm 1940, liên minh với Pháp thì kẻ địch của Việt Minh là cả phát xít Nhật và thực dân Pháp. Nhưng sau khi Nhật đảo chính Pháp vào 9-3-1945 thì cách mạng tập trung đấu tranh với phát xít Nhật, thậm chí giúp đỡ một số người Pháp bỏ trốn.

Sau cách mạng tháng Tám đến tháng 12-1946, tình hình vô cùng đặc biệt. Đất nước ta phải cùng một lúc chống nhiều kẻ địch: Anh, Pháp, Mỹ, Tưởng Giới Thạch. Tưởng vào phía bắc, đi sau Tưởng là sự ủng hộ của Mỹ. Phía nam là thực dân Pháp và thực dân Anh ủng hộ thực dân Pháp.

Dĩ bất biến là làm sao giữ được độc lập dân tộc. Điều này đòi hỏi phải hết sức quyền biến. Ngày 6-3-1946, chúng ta hòa với Tưởng ở phía bắc, chống Pháp ở phía nam. Trong bối cảnh lực lượng cách mạng còn yếu, nếu cùng lúc chống nhiều kẻ thù thì sẽ thất bại, đây là ứng xử hợp lý. Đáng nói, mặc dù quân Tưởng đang xâm phạm chủ quyền đất nước nhưng chúng ta chấp nhận cung cấp lương thực. Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa chấp nhận đặc cách cho phía Tưởng một số ghế bộ trưởng và 70 ghế trong Quốc hội.

Trước khi sang Pháp để đàm phán năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng đảm đương công việc theo nguyên tắc dĩ bất biến, ứng vạn biến. Người cũng thực hiện nguyên tắc trên khi ở Pháp. Thời điểm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh dĩ bất biến với nguyên tắc độc lập dân tộc, kéo dài thời gian hòa bình để xoay chuyển với tình thế phức tạp. Trước sự căng thẳng trong đàm phán, Người ký Hiệp định sơ bộ Pháp – Việt với nội dung Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa  một quốc gia tự do nằm trong khối liên hiệp Pháp. Đây là một ứng xử linh hoạt. Thoạt nhìn, nội dung này có vẻ nhượng bộ Pháp nhưng về bản chất, Việt Nam vẫn giữ được độc lập, cách nói không quá quan trọng. Tiếp đến là hội nghị đàm phán Pháp-Việt được tổ chức ở lâu đài Fontainebleau và tạm ước Việt - Pháp (14-9-1946). Đây là những bước đi của Bác nhằm kéo dài thời gian hòa bình để Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa chuẩn bị lực lượng, cơ sở kháng chiến.

Ôn cố tri tân, nguyên tắc dĩ bất biến, ứng vạn biến vẫn luôn có giá trị với tình hình hiện nay. Thế giới đang có sự đan xen, chồng chéo về mối quan hệ, đặc biệt giữa các nước lớn. Nổi cộm hiện nay là mâu thuẫn giữa Mỹ - châu Âu và Nga với biểu hiện cụ thể là xung đột tại Ukraine.

Trong tình thế hiện nay, điều bất biến của chúng ta vẫn là lợi ích dân tộc, độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ trên nguyên tắc “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Một biểu hiện cho thấy việc ứng dụng tư tưởng dĩ bất biến, ứng vạn biến trong tình hình hiện nay là chính sách “4 không” đối với quốc phòng: không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Với chính sách này, chúng ta tránh được nguy cơ xung đột với nước khác khi lợi ích quốc gia chưa bị xâm phạm. Nhờ vậy, chúng ta có thể tranh thủ được hòa bình để phát triển kinh tế.

Đối với đất nước ta, vấn đề lớn nhất cần giải quyết bây giờ là phải trở nên giàu mạnh. Sau nhiều nỗ lực, từ một nước nghèo, Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình và đang đứng trước cơ hội rất lớn trở thành giàu mạnh. Muốn thế, chúng ta phải ứng vạn biến trước tình hình thế giới nhiều biến động và dĩ bất biến là giữ cho được hòa bình.

Tình hình trong, ngoài nước đã khác xa thời điểm mới giành độc lập nhưng vẫn tương đồng về bản chất trong nhiều vấn đề. Chúng ta hãy tiếp tục phát huy những gì đã đạt được, kiên định chiến lược ngoại giao, quốc phòng, kinh tế… hiện nay vì đó là nền tảng được dựng xây qua nhiều thế hệ và gặt hái kết quả khả quan.

Chúng ta hãy tiếp tục kiên định với con đường xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Định hướng xã hội chủ nghĩa là một khái niệm rất lớn đòi hỏi vừa có sự kế thừa, tổng hợp thực tiễn, vừa có sự sáng tạo liên tục. Phấn đấu trở thành nước phát triển là mục tiêu theo tiêu chí chung của thế giới. Còn với định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần chú trọng hơn các chính sách an sinh, phúc lợi xã hội, hạn chế những hệ lụy của khoảng cách giàu nghèo, bảo vệ môi trường…

Đây cũng là những cơ sở dĩ bất biến để ứng vạn biến trong mọi tình thế. Dù kinh tế phát triển đến đâu cũng vì mục tiêu hạnh phúc của nhân dân, công bằng xã hội. Dù lợi ích kinh tế lớn thế nào cũng không đánh đổi môi trường, cân bằng sinh thái.

So với các quốc gia có cùng trình độ phát triển, nước ta có những dấu ấn về an sinh xã hội như xóa đói giảm nghèo, phòng chống dịch bệnh… Việt Nam đã có những cam kết mạnh mẽ trước thế giới về bảo vệ môi trường. Những nỗ lực này cần được tiếp tục phát huy khi nước ta từng bước có trình độ phát triển cao hơn nữa.

Khôi Nguyên Thảo (Ghi lại lời của GS.TS Võ Văn Sen)

Box: Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nói đất nước ta có trường phái ngoại giao riêng biệt, đặc sắc và độc đáo, đó là trường phái ngoại giao cây tre. Cây tre Việt Nam có gốc vững chắc, cành uyển chuyển, mềm dẻo nhưng rất kiên cường, không có cơn gió nào quật ngã được. Đây là trường phái ngoại giao thấm từ tâm hồn, cốt cách, khí phách của Việt Nam: mềm mại, khôn khéo nhưng kiên cường; linh hoạt, sáng tạo nhưng kiên định, can trường.

Trường phái ngoại giao này cũng là biểu hiện của tư tưởng dĩ bất biến, ứng vạn biến.  

Thứ Hai, 7 tháng 8, 2023

KỶ NIỆM 78 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM (19/8/1945 – 19/8/2023) VÀ 18 NĂM NGÀY HỘI TOÀN DÂN BẢO VỆ AN NINH TỔ QUỐC (19/8/2005 – 19/8/2023)

 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG AN NHÂN DÂN

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài, nhà tư tưởng lỗi lạc, người thầy kính yêu của Đảng và dân tộc ta, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, luôn chăm lo xây dựng, giáo dục và rèn luyện Công an nhân dân trưởng thành, lớn mạnh về mọi mặt.

Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có lực lượng Công an nhân dân tư tưởng và những lời dạy quý báu. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân đã trở thành di sản tinh thần thiêng liêng, là nền tảng lý luận, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của lực lượng Công an nhân dân, góp phần quan trọng làm nên những chiến công to lớn, thành tích xuất sắc trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

Ngay từ khi chính quyền cách mạng mới ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ bản chất cách mạng của Công an nhân dân: “Công an nhân dân hoàn toàn khác Công an đế quốc. Công an đế quốc là nanh vuốt của đế quốc để hà hiếp áp bức đa số nhân dân... Công an nhân dân phải là kiểu mẫu, phải là người chuyên trách thi hành chính sách, phương châm của Đảng, Chính phủ cho tốt. Công an nhân dân phải thực sự phục vụ nhân dân” (1); Người nhấn mạnh: “Mỗi người công an phải là một chiến sĩ... Tôi mong rằng toàn thể Công an sẽ cố gắng thi đua để lập công trong cuộc thắng lợi chung”(2).

Trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, về yêu cầu, nhiệm vụ công tác công an trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Đối với nhân dân, đối với Đảng, với cách mạng xã hội chủ nghĩa, trách nhiệm của công an rất lớn, rất nặng nề”(3); “nhiệm vụ công an thì nhiều, nhưng nói tóm tắt là bảo vệ sự nghiệp xã hội chủ nghĩa... Đó là nhiệm vụ nặng nề, gian khổ đồng thời cũng rất vẻ vang”(4).

Trong Bài nói tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 10, tháng 1 năm 1956, Người nhấn mạnh: “Nhân dân ta có hai lực lượng. Một là quân đội, để đánh giặc ngoại xâm, để bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hòa bình. Một lực lượng nữa là Công an, để chống kẻ địch trong nước, chống bọn phá hoại. Có lúc chiến tranh, có lúc hòa bình. Lúc chiến tranh thì quân đội đánh giặc, lúc hòa bình thì tập luyện. Còn Công an thì phải đánh địch thường xuyên, lúc chiến tranh có việc, lúc hòa bình lại càng nhiều việc”(5).

Về phương pháp, biện pháp công tác, mục tiêu bảo vệ và đối tượng đấu tranh của Công an nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Công an phải:

1. Nhận rõ nhiệm vụ của công an là bảo vệ và phục vụ nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền nhân dân.

2. Để làm tròn nhiệm vụ thì phải luôn luôn đoàn kết nội bộ, nâng cao cảnh giác, chớ chủ quan, khinh địch, tự mãn.

3. Phải nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ.

4. Phải gần gũi nhân dân, dựa vào lực lượng của nhân dân, xa rời nhân dân thì tài tình mấy cũng không làm gì được”(6). Đồng thời, Người dặn dò cán bộ, chiến sĩ công an: “Làm công an không phải làm “quan cách mạng”. Làm công an là để giữ trật tự, an ninh cho nhân dân, xem xét tìm tòi âm mưu phản động làm hại nhân dân”(7); “Bọn phản động không bao giờ muốn cho chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công, công an phải luôn luôn cảnh giác, ngăn ngừa những hành động phá hoại của chúng để bảo vệ lợi ích của nhân dân, bảo vệ sự nghiệp cách mạng”(8).

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, công tác công an phải thấm nhuần sâu sắc và thực hiện nhất quán quan điểm quần chúng của Đảng theo phương châm “lấy dân làm gốc”. Dù kẻ địch có âm mưu thâm độc đến đâu, nhưng nếu chúng ta giữ được lòng dân, dựa vào dân, phát huy sức mạnh của nhân dân, thì địch “ba đầu, sáu tay” cũng bị thất bại.

Trong Bài nói chuyện tại Trường Công an Trung ương trung cấp khóa II, Bác Hồ chỉ rõ: “Công an có bao nhiêu người? Dù có vài ba nghìn hay năm bảy vạn đi nữa thì lực lượng ấy vẫn còn ít lắm bên cạnh lực lượng nhân dân. Năm vạn người thì chỉ có năm vạn cặp mắt, năm vạn đôi bàn tay. Phải làm sao có hàng chục triệu đôi bàn tay, hàng chục triệu cặp mắt và đôi tai mới được. Muốn như vậy, phải dựa vào dân, không được xa rời dân. Nếu không thế thì sẽ thất bại. Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”(9).

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội là sự nghiệp của cả hệ thống chính trị và toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt. Để các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn mỗi cán bộ, chiến sĩ công an phải làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, hiểu được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; đặc biệt phải làm để dân tin, dân phục, dân yêu, phải là những cán bộ dân vận giỏi nhất, cán bộ dân vận tốt nhất.

Trong Bài nói tại Hội nghị Cán bộ Công an, ngày 29 tháng 4 năm 1963, Người nhấn mạnh: “Phải ra sức phát động quần chúng tham gia phong trào bảo vệ trị an, giáo dục quần chúng nâng cao tinh thần làm chủ đất nước, tinh thần cảnh giác đối với kẻ thù của nhân dân, tích cực phòng và chống gián điệp biệt kích. Muốn đạt kết quả đó thì công an phải hết lòng giúp đỡ nhân dân và dựa vào lực lượng hùng mạnh của nhân dân... Làm tốt những việc đó, thì chúng ta nhất định thắng được địch. Đảng và Chính phủ tin vào lòng tuyệt đối trung thành và ý chí kiên cường phấn đấu của các đồng chí. Toàn thể cán bộ và chiến sĩ công an phải cố gắng vượt mọi khó khăn, làm trọn nhiệm vụ nặng nề nhưng rất vẻ vang của công an cách mạng, xứng đáng với lòng tin cậy của nhân dân, của Đảng và Chính phủ”(10).

Trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh, trật tự, đồng thời với sự giúp đỡ của nhân dân, thì sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa lực lượng Công an nhân dân với các cấp, các ngành, nhất là với Quân đội nhân dân, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng có ý nghĩa quyết định.

Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: “Phải đi đúng đường lối quần chúng thì nhân dân mới tin yêu, giúp công an và công an mới thành công được. Phải đoàn kết nội bộ, đoàn kết với nhân dân và với các ngành thì công việc mới thắng lợi”(11); “Các cấp ủy đảng phải thật sự giúp đỡ và lãnh đạo chặt chẽ công an”(12).

Bảo vệ bí mật Nhà nước là một bộ phận quan trọng của cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức và công dân. Trong bài “Phải giữ bí mật của Nhà nước” đăng trên Báo Nhân dân, số 700, ngày 1 tháng 2 năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Những văn kiện bí mật của Nhà nước quan hệ trực tiếp đến vận mệnh của toàn dân, đến sự mất còn của dân tộc. Cho nên giữ bí mật của Nhà nước là nhiệm vụ của toàn dân, đặc biệt là nhiệm vụ của cán bộ các cơ quan, các đoàn thể”(13).

Người nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo vệ bí mật Nhà nước: “Vấn đề này, nhắc đi nhắc lại đã nhiều lần. Nhưng tiếc thay, chứng bệnh không biết giữ bí mật vẫn rất phổ thông, rất trầm trọng. Nhiều cán bộ, nhân viên, binh sĩ, nhân dân còn mắc bệnh ấy. Chúng ta phải luôn nhớ rằng: trong chiến tranh, giữ bí mật hay không là điều rất quan hệ đến sự thắng hay bại. Nếu địch biết tin tức của ta, nó sẽ tìm đánh vào chỗ yếu của ta, thì địch sẽ thắng. Nếu ta thấy rõ tin tức của địch, ta sẽ tìm đánh vào chỗ yếu của nó, thì ta sẽ thắng”(14).

Người chỉ rõ: “Tất cả các cơ quan, bộ đội, tất cả các đoàn thể phải phụ trách thiết thực huấn luyện cho binh sĩ, cán bộ và nhân dân điều lợi, điều hại và cách giữ bí mật. Mỗi người phải coi việc giữ bí mật là một nghĩa vụ của mình đối với Tổ quốc, đối với Chính phủ”(15).

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt, chăm lo xây dựng, rèn luyện lực lượng Công an nhân dân tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, vì nhân dân phục vụ, xứng đáng là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Giữa bộn bề công việc cấp bách của Đảng, Chính phủ khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra gay go, quyết liệt, trong Thư gửi đồng chí Hoàng Mai, Giám đốc Công an Khu XII về “Tư cách người Công an cách mệnh”, ngày 11/3/1948, Người chỉ rõ những phẩm chất đạo đức và tư cách người Công an cách mạng phải có, đó là:

Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính.

Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ.

Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.

Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.

Đối với công việc, phải tận tụy.

Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo.

Nội dung Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân có ý nghĩa sâu sắc, toàn diện đối với quá trình công tác, chiến đấu, tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, chiến sĩ công an. Đó là những phẩm chất không thể thiếu, là nhân tố quyết định để lực lượng Công an hoàn thành xuất sắc yêu cầu, nhiệm vụ được giao: Có lập trường, tư tưởng chính trị vững vàng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; có phẩm chất đạo đức trong sáng; có ý chí cách mạng tiến công, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân.

Trong Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân, Người dành điều đầu tiên để căn dặn cán bộ, chiến sĩ công an: “Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính”, đây là  phẩm chất đạo đức đầu tiên và quan trọng nhất mà mỗi cán bộ, chiến sĩ công an phải có, phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, thì mới có cơ sở để phấn đấu thực hiện những điều Bác Hồ dạy, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Thực hiện lời dạy của Bác chính là nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao sức mạnh chính trị, tư tưởng, năng lực thực thi nhiệm vụ trong mỗi con người nói chung, nhất là đối với cán bộ, chiến sĩ công an nói riêng, tích cực học tập, rèn luyện để trở thành người cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”.

Trong Bài nói tại lớp nghiên cứu khóa I và lớp bổ túc khóa VI Trường Công an Trung ương, ngày 25 tháng 12 năm 1958, Người nhấn mạnh: “Công an đánh địch bên ngoài đã khó, đánh địch bên trong người còn khó hơn. Vì vậy, phải nâng cao kỷ luật, tính tổ chức, chống ba phải, nể nang. Công tác phải đi sâu và thiết thực. Làm việc phải có điều tra, nghiên cứu, không được tự kiêu, tự đại. Phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân thì khuyết điểm mới có thể khắc phục được và ưu điểm mới có thể phát huy được”(16).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân là một chỉnh thể thống nhất, sâu sắc và toàn diện về yêu cầu, nhiệm vụ, đối tượng đấu tranh, phương châm hành động, biện pháp công tác, mục tiêu phấn đấu, cống hiến, tu dưỡng, rèn luyện, chuẩn mực đạo đức, lối sống của cán bộ, chiến sĩ công an, đến nay vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.

Học tập và thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân đã trở thành phong trào thi đua rộng lớn, liên tục trong Công an nhân dân suốt 70 năm qua, luôn là nội dung trọng tâm công tác xây dựng Đảng, công tác chính trị, tư tưởng của lực lượng Công an nhân dân trong các giai đoạn cách mạng trước đây, cũng như trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế ngày nay.

Thực tiễn công tác công an đã chỉ ra rằng, ở đâu, khi nào, cán bộ, chiến sĩ công an quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc những lời dạy của Bác Hồ, thì ở đó, khi đó, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân được giữ vững, công an được nhân dân tin yêu, cấp ủy, chính quyền tin cậy, các cấp, các ngành đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ.

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, can thiệp lật đổ ở nước ta với quy mô ngày càng mở rộng, cường độ ngày càng quyết liệt, tính chất ngày càng nguy hiểm, thâm độc, tinh vi, xảo quyệt. Tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp, có mặt nghiêm trọng hơn, gây bức xúc trong nhân dân. Trong bối cảnh đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân vẫn mang tính thời sự, còn nguyên vẹn giá trị và là bài học quý báu đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, nhất là đối với lực lượng Công an nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng chỉ đạo, ra sức học tập, làm theo lời dạy của Bác Hồ, hơn lúc nào hết, lực lượng Công an nhân dân nguyện tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng vẻ vang; nêu cao tinh thần đoàn kết, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, hun đúc bản lĩnh chính trị vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách; trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, chấp hành nghiêm kỷ luật, tận tụy với công việc, nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân; phối hợp chặt chẽ với Quân đội nhân dân, với các bộ, ban, ngành, địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội và dựa vào nhân dân, xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm vững chắc an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và mở rộng đối ngoại của đất nước để mãi mãi xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân./.

1. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 365.

2. Sđd, tr. 10.

3. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.31.

4. Sđd, tr.447.

5. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.118.

6. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 119.

7. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.365.

8. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.447.

9. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.366. 10. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 55.

11. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 280.

12. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 55.

13. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 121.

14. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 57.

15. Sđd, tr. 58, 59.

16. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 280.

Đại tướng Trần Đại Quang - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an

Theo http://cand.com.vn

Thứ Hai, 10 tháng 7, 2023

NGHĨ VỀ CHỮ ĐỨC, CHỮ TÀI CỦA NGƯỜI CÁN BỘ

 


Mỗi khi nói về cán bộ, bao giờ Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng coi trọng cả đức và tài, trong đó đức phải là gốc. Theo Người, cán bộ mà không có đạo đức cách mạng thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Đã hơn nửa thế kỷ, những lời căn dặn ấy ngày càng thấy thấm thía, nhất là trong xây dựng đội ngũ cán bộ hiện nay.

Sau khi cách mạng giành chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghĩ ngay đến việc tìm người tài đức để kiến thiết đất nước. Trên Báo Cứu quốc số ra ngày 20/11/1946, Người viết “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức”. Sau này, trong nhiều bài viết, hay những lần nói chuyện, Người cũng thường nói đến đức và tài của người cán bộ.

“Có tài không có đức, tham ô hủ hóa có hại cho nước”

Là người trọng dụng nhân tài, không phân biệt người từng làm việc dưới chế độ cũ, hay ngoài Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến chữ đức. Theo Người, muốn có đạo đức cách mạng thì phải có nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Tức là phải biết yêu thương, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào; ngay thẳng không có tư tâm, không làm việc bậy; sáng suốt, biết xem người, xem việc, biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, vì Đảng mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian.

Cán bộ có đạo đức cách mạng còn phải là người dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm, thấy khuyết điểm phải có gan sửa chữa; không tham địa vị, không tham tiền tài, không ham người tâng bốc mình, quang minh chính đại... Đó là đạo đức mới, chứ không phải thứ đạo đức thủ cựu.

Có đức thôi chưa đủ mà còn phải có tài; đức và tài hòa vào nhau, hỗ trợ nhau làm nên phẩm chất người cách mạng. Người cho rằng, công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém.

Vì vậy, Đảng phải nuôi dạy cán bộ, phải trọng nhân tài, trọng mỗi người có ích cho công việc chung; phải hiểu rõ cán bộ, cất nhắc cán bộ cho đúng, nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được việc. Phải khéo dùng cán bộ, tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ. “Lãnh đạo khéo, tài nhỏ có thể hóa ra tài to. Lãnh đạo không khéo, tài to cũng hóa ra tài nhỏ”.

Ở những cán bộ tốt, không thể thiếu hai phẩm chất là đức và tài. Trong dịp nói chuyện tại lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp I, ngày 12/6/1956, Người căn dặn “Có tài phải có đức. Có tài không có đức, tham ô hủ hóa có hại cho nước. Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai”.

Có tài, tức là có năng lực trí tuệ mới có thể làm nên những việc lớn, việc khó để phụng sự Tổ quốc, nhưng tài phải đi liền với đức, nếu thiếu đức mà làm những việc bất chính thì hại cho đất nước vô cùng. Điều ấy hiển nhiên như một quy luật “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo”.

“Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống”

Đạo đức cách mạng là phẩm chất cao quý đối với người cán bộ, không thể tự nhiên mà có. Trên Tạp chí Học tập, số tháng 12/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài viết Đạo đức cách mạng.

Trong đó, tác giả phân tích rất sâu việc người cách mạng phải thường xuyên rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, để chống lại chủ nghĩa cá nhân bởi nó “là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Mà ai cũng biết rằng xuống dốc thì dễ hơn lên dốc. Vì thế mà càng nguy hiểm”.

Theo Người, vì chưa gột sạch được chủ nghĩa cá nhân, nên có đảng viên kể công với Đảng, có ít nhiều thành tích thì đòi ưu đãi, đòi danh dự, địa vị, đòi hưởng thụ, nếu không thỏa mãn yêu cầu thì oán trách Đảng, cho rằng không có tiền đồ, “bị hy sinh”, rồi dần dần xa rời Đảng, thậm chí phá hoại chính sách và kỷ luật của Đảng,... Đó là những thứ trái ngược với đạo đức cách mạng mà người cán bộ không dễ gì lúc nào cũng thắng được.

Chính vì thế năm 1969, dịp kỷ niệm 39 năm Ngày thành lập Đảng, Người lại viết bài Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân đăng trên Báo Nhân Dân, có tính tổng kết thực tiễn, phát triển tư tưởng về đạo đức cách mạng. Người nhấn mạnh, do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa, tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành; mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân.

Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, giải pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ một cách toàn diện. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong hơn 35 năm đổi mới có sự đóng góp đáng kể của đội ngũ cán bộ các cấp. Song, công tác cán bộ hiện nay vẫn đang đặt ra nhiều lo ngại. Chưa bao giờ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được làm quyết liệt như những nhiệm kỳ gần đây.

Không ít cán bộ, kể cả cấp cao bị xử lý kỷ luật, thậm chí xử tù. Đáng nói là trong đó có nhiều cán bộ được đào tạo cơ bản, đã thử thách qua nhiều cương vị công tác, từng được tôn vinh vì có uy tín, có thành tích nổi trội. Một trong những nguyên nhân lớn nhất dẫn đến việc đau lòng đó là do chủ nghĩa cá nhân “nó khéo dỗ dành” làm cho con người ta không chiến thắng được chính mình, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Công bằng mà nói, chưa bao giờ chúng ta có đội ngũ cán bộ trưởng thành như hiện nay. Ở đây có điều cần nhìn sâu hơn, đó là cán bộ có chuyên môn được đào tạo bài bản, đã dày công rèn luyện, thì tài năng của họ không thể mai một. Nhưng, nếu người cán bộ tài năng mà thiếu rèn luyện, trau dồi phẩm chất đạo đức thường xuyên thì ngay cả khi đã có uy tín, có quyền lực thì vẫn dễ dàng bị nhiều thứ cám dỗ, khó giữ mình và chỉ một cái tặc lưỡi là lòng dạ “không còn trong sáng nữa”.

Thế là người ấy không chỉ đánh mất danh dự, nhân phẩm của chính mình, còn ảnh hưởng đến hình ảnh người cán bộ, làm giảm sút uy tín của Đảng. Trong số các vụ án mới xử vừa qua có thể kể tên hàng loạt các trường hợp cán bộ mắc sai phạm do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Tài và đức của người cán bộ đều phải khổ luyện mới có được, nhưng cái đức dễ bị lung lay trước hoàn cảnh cám dỗ. Để có cán bộ tài đức vẹn tròn là quá trình dày công dìu dắt của Đảng, nhưng muốn giữ được tài đức thì người cán bộ phải không ngừng tự rèn luyện.

Hơn bao giờ hết, mỗi người cán bộ phải nhớ lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”./.

BẮC VĂN


Thứ Hai, 6 tháng 3, 2023

KỶ NIỆM 113 NĂM NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ VÀ 1983 NĂM CUỘC KHỞI NGHĨA HAI BÀ TRƯNG

 Chủ tịch Hồ Chí Minh với phụ nữ Việt Nam

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm và đánh giá cao vai trò của phụ nữ Việt Nam trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc. Người xác định phụ nữ là một trong những nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nhận thấy phụ nữ có nhiều khả năng làm lãnh đạo, từ cấp cơ sở đến trung ương, đo đó, Người đề nghị Đảng, Chính phủ và các cấp, các ngành phải đặc biệt chú ý, cất nhắc phụ nữ vào đúng những vị trí, chức vụ phù hợp với khả năng để chị em có điều kiện phát huy năng lực của mình.


Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nữ đại biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, tháng 9 năm 1960


1. Bác Hồ mong muốn giải phóng phụ nữ và đánh giá cao vai trò, vị trí của phụ nữ trong xã hội

Ngay từ những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, Bác Hồ luôn quan tâm đến phụ nữ và trẻ em ở những nước thuộc địa nói chung, Việt Nam nói riêng. Người cho đó là những lớp người khổ nhất trong những người khổ cực, họ không những phải chịu đựng nỗi đau của người dân mất nước, bị tước đoạt hết các quyền tự do, dân chủ mà còn bị ngược đãi, chà đạp lên cả phẩm giá con người.

Xuất phát từ lòng nhân ái bao la và sự đồng cảm sâu sắc với nỗi đau khổ mà người phụ nữ phải gánh chịu dưới chế độ thực dân, phong kiến nên Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt ra yêu cầu bức thiết phải giải phóng “nửa thế giới” khỏi “xiềng xích nô lệ”. Người xác định: “Phụ nữ chiếm một nửa tổng số nhân dân. Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ”.

Trong tác phẩm “Ðường Kách mệnh”, Bác viết: “Ông Các Mác nói rằng: Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi”; “Ông Lê-nin nói: Ðảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công...” . Sau khi đã trở thành Chủ tịch nước, Người luôn dành tình cảm, sự ưu ái, ân cần của mình đối với phụ nữ.

Trong Thư gửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm Khởi nghĩa Hai Bà Trưng và ngày Quốc tế Phụ nữ (8/3/1952), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò quan trọng của phụ nữ trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, Người viết: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Điều này một lần nữa được Người khẳng định trong cuốn sách “Lịch sử nước ta”: “Phụ nữ ta chẳng tầm thường. Ðánh Ðông, dẹp Bắc làm gương để đời”. Tại Đại hội liên hoan phụ nữ “Năm tốt”, ngày 30/4/1964, Bác khẳng định: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ ta đã góp phần khá lớn làm cho cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi vẻ vang (…) Trong hàng ngũ vẻ vang những anh hùng quân đội, anh hùng lao động, chiến sĩ thi đua và lao động tiên tiến đều có phụ nữ. Phụ nữ ta tham gia ngày càng đông và càng đắc lực trong các ngành kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội”.

Cùng với việc đánh giá cao sự đóng góp của phụ nữ trong kháng chiến, trong xây dựng đất nước, Bác căn dặn phụ nữ cần phải luôn cố gắng hơn nữa: “…Tất cả phụ nữ phải hăng hái nhận lấy trách nhiệm của người làm chủ đất nước, tức là phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Muốn làm tròn nhiệm vụ vẻ vang đó, phụ nữ ta phải xoá bỏ cái tâm lý tự ty và ỷ lại; phải có ý chí tự cường, tự lập; phải nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hóa, kỹ thuật (…) Vậy chị em phụ nữ ta phải nhận rõ địa vị người làm chủ và nhiệm vụ người làm chủ nước nhà; phải có quyết tâm mới, đạo đức mới, tác phong mới để làm trọn nghĩa vụ mới của mình là góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà”.

Ngày 9-3-1961, khi nói chuyện với các đại biểu dự Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần III, Bác dặn dò phụ nữ phải nhận rõ địa vị làm chủ của mình: “Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã nêu rõ chính sách nam nữ bình đẳng. Hiến pháp ta đã xác định chính sách đó. Trong mọi việc, Đảng và Chính phủ ta luôn luôn quan tâm giúp đỡ phụ nữ. Vậy chị em phụ nữ ta phải nhận rõ địa vị làm người chủ và nhiệm vụ người làm chủ nước nhà; phải có quyết tâm mới, đạo đức mới, tác phong mới để làm trọn nghĩa vụ mới của mình là góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, trước mắt là thi đua hoàn thành tốt kế hoạch năm nay, để làm đà tốt cho cả kế hoạch 5 năm, để xây dựng đời sống tươi vui hạnh phúc cho nhân dân ta, cho con cháu ta”.

Tại Đại hội liên hoan Phụ nữ “Năm tốt” (ngày 30/4/1964), Bác mong muốn chị em phải tích cực thi đua, cố gắng học tập, phấn đấu vươn lên: “Phụ nữ phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu; phải xoá bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti; phải phát triển chí khí tự cường, tự lập. Có như thế thì phong trào “Năm tốt” sẽ ngày càng lan rộng, ăn sâu và sẽ thực hiện 100% bình quyền, bình đẳng” .

Xuất phát từ vai trò, vị trí và những đóng góp của phụ nữ, Bác Hồ đã nhiều lần nêu rõ trách nhiệm của các cơ quan Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia hoạt động, phấn đấu. Khi nói chuyện tại Lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp huyện (18/1/1967), Bác phê bình sự thiếu sót trong bồi dưỡng cán bộ nữ, Người đánh giá cao vai trò của cán bộ nữ đồng thời yêu cầu phải đấu tranh mạnh bệnh thành kiến hẹp hòi đối với phụ nữ: “Cán bộ nữ ít như vậy là một thiếu sót. Các đồng chí phụ trách lớp học chưa quan tâm đến việc bồi dưỡng cán bộ nữ. Đây cũng là thiếu sót chung ở trong Đảng. Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ, hay thành kiến, hẹp hòi. Như vậy là rất sai. Hiện nay, có nhiều phụ nữ tham gia công tác lãnh đạo ở cơ sở. Nhiều người công tác rất giỏi. Có cháu gái làm chủ nhiệm hợp tác xã toàn thôn, không những hăng hái mà còn làm rất tốt. Các cháu gái ở các hợp tác xã thường có nhiều ưu điểm: ít mắc tệ tham ô, lãng phí, không hay chè chén, ít hống hách, mệnh lệnh như một số cán bộ nam, có đúng như thế không? Bác mong rằng các đồng chí hãy thật sự sửa chữa bệnh thành kiến, hẹp hòi đối với phụ nữ. Các cô, nhất là các cô ở huyện, phải đấu tranh mạnh. Vì các cô mà không đấu tranh thì những đồng chí nam có thành kiến với phụ nữ sẽ không tích cực sửa chữa” .

Trước lúc đi xa, Người vẫn đau đáu một nỗi niềm: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo” .

Trong bản Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trước lúc đi xa, Người đã không quên nhắc tới phụ nữ Việt Nam: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất, Ðảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Ðó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”.

Những lời chỉ dạy, quan tâm của Người đối với phụ nữ từ khi ra đi tìm đường cứu nước, cho đến những lời di chúc để lại trước lúc đi xa, đều thể hiện tình cảm cao quý, lòng yêu mến và đánh giá cao vai trò của người phụ nữ trong xã hội. Đó vừa là tình cảm, vừa là huấn thị thiêng liêng mà Bác dành cho phụ nữ Việt Nam.

2. Phụ nữ Việt Nam làm theo lời Bác dạy

Đáp lại niềm tin tưởng và tình cảm trân quý của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phụ nữ Việt Nam đã không quản ngại khó khăn vất vả, luôn anh dũng chiến đấu, kề vai sát cánh cùng nam giới trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc để đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, thống nhất đất nước. Không chỉ trên tiền tuyến mà ở cả hậu phương, chị em phụ nữ cũng luôn phấn đấu thi đua tăng gia sản xuất, nuôi dạy con ngoan, làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến.

Vị thế của người phụ nữ ngày càng được nâng cao trong gia đình và ngoài xã hội. Họ không chỉ làm tốt thiên chức “làm vợ, làm mẹ” mà còn hoàn thành vai trò của một người công dân với xã hội. Các thế hệ phụ nữ Việt Nam luôn nỗ lực phấn đấu, rèn luyện để tiếp tục phát huy những truyền thống hào hùng của phụ nữ Việt Nam, tích cực trên mọi mặt trận, góp phần xây dựng đất nước, quê hương ngày càng giàu mạnh, văn mình, xây dựng và phát triển phong trào phụ nữ ngày càng phát triển.

Khắc sâu lời dạy của Người, ngày nay “một nửa thế giới” đã nỗ lực vươn lên để khẳng định mình. Vị thế của người phụ nữ ngày càng được nâng cao trong gia đình và ngoài xã hội. Họ không chỉ làm tốt thiên chức “làm vợ - làm mẹ” mà còn hoàn thành tốt vai trò của một người công dân đối với xã hội. Thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phụ nữ Việt Nam đã có mặt trên tất cả các lĩnh vực công tác của đời sống xã hội, ngày càng có nhiều chính trị gia; nhà lãnh đạo, quản lý; nhà khoa học và doanh nhân thành đạt  là phụ nữ.

Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự nỗ lực của chị em phụ nữ cả nước, công tác phụ nữ trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, góp phần quan trọng vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, xây dựng và phát triển đất nước. Ðể phong trào phụ nữ tiếp tục phát triển, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các cấp ủy đảng, chính quyền, các bộ, ban, ngành và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cần phối hợp, tạo điều kiện để phụ nữ có cơ hội cống hiến nhiều hơn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tiếp tục phát huy truyền thống “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” trong thời kỳ mới, xứng đáng với tám chữ vàng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành tặng phụ nữ Việt Nam./.

TS Minh Dương – Ths Duy Tiến

KỶ NIỆM 94 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN (26/3/1931 – 26/3/2025)

  Nhớ những lời dạy của Bác Hồ dành cho thanh niên Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại luôn dành những...