Thứ Hai, 22 tháng 4, 2024

KỶ NIỆM 49 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975 - 30/4/2024)

 

NHỚ BÁC HỒ TRONG NGÀY “ĐẤT NƯỚC TRỌN NIỀM VUI”

 


Trong những ngày tháng Tư này, trên khắp cả nước đang ra sức thi đua chào mừng kỷ niệm 49 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2024). Lòng người xốn xang như được sống lại khí thế hào hùng của hơn bốn mươi lăm năm về trước - ngày “Đất nước trọn niềm vui” như tên ca khúc nổi tiếng của cố nhạc sĩ Hoàng Hà. Vui ngày toàn thắng, mỗi người con Việt Nam lại nhớ Bác Hồ kính yêu vô hạn, người anh hùng giải phóng dân tộc, vị lãnh tụ vĩ đại đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, làm rạng rỡ non sông đất nước ta.

Thắng lợi to lớn của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước cũng như những trang sử chói lọi của cách mạng Việt Nam mãi mãi gắn liền với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để có được chiến thắng ngày 30/4/1975 lịch sử, vào ngày 5/6/1911, trên con tàu Amiral La Touche De Tréville từ Bến cảng Nhà Rồng thành phố Sài Gòn - Gia Định, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc với quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”. Từ đây, Bác của chúng ta đã bắt đầu cuộc hành trình 30 năm bôn ba khắp chân trời, góc bể, chịu không ít hiểm nguy, gian khổ đi tìm con đường giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước.

Những hy sinh, vất vả của Bác đã được đền đáp. Vào một ngày tháng 7 năm 1920, đọc được bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin đăng trên báo Nhân đạo (Pháp), Nguyễn Ái Quốc lập tức bị cuốn hút vì tính chất cách mạng triệt để của nó, vì nó đã giải đáp thỏa đáng những điều mà bấy lâu nay Người hằng mong ước, đợi chờ. Luận cương của V.I.Lênin như luồng ánh sáng chiếu rọi vào trí tuệ và tâm hồn của Nguyễn Ái Quốc, đem đến cho Người một nhãn quan chính trị mới. Từ đó, Bác hoàn toàn tin theo V.I.Lênin và quyết đi con đường cách mạng mà V.I.Lênin đã vạch ra. Từ lập trường của một người yêu nước, Người chuyển sang lập trường của một người cộng sản. Sau này, khi kể lại sự kiện quan trọng đó, Người nói: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đầy đến khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”.

Kể từ đây, cách mạng Việt Nam đã có ánh sáng soi đường, đưa chúng ta đi tới những ngày lịch sử vinh quang, vĩ đại: Ngày 3/2/1930, Bác sáng lập ra Đảng để gánh vác nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đất nước; ngày 2/9/1945, Bác đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; ngày 7/5/1954, với chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, chúng ta đã giải phóng miền Bắc, chuẩn bị cho thống nhất đất nước; ngày 30/4/1975 đánh dấu Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, non sông Việt Nam thu về một mối.

Bác Hồ đã lãnh đạo cuộc kháng chiến của dân tộc ta để có ngày 30/4/1975 bằng cả sự chăm lo: “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu cực, chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”. Bởi “Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam”, “Đồng bào Nam Bộ là dân tộc nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!”. Với Người, đất nước, núi sông Việt Nam là một khối thống nhất, Bắc - Trung - Nam “Không thể phân chia, kết đoàn ba miền như con một cha, nhà một nóc, no đói, rách lành sẻ chia, đùm bọc, không ai có thể chia rẽ nước Việt Nam ta”…

Khi cuộc trường chinh chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc, một nửa đất nước sạch bóng ngoại xâm, song cả dân tộc vẫn chịu nỗi đau chia cắt do âm mưu và hành động xâm lược của đế quốc Mỹ. Hòa bình lập lại trên miền Bắc nhưng trái tim Hồ Chí Minh chưa phút nào yên, vì miền Nam còn bị quân thù giày xéo. Người luôn trăn trở khôn nguôi về miền Nam, về sự nghiệp giải phóng đất nước vẫn còn chưa hoàn tất. Giải phóng miền Nam thống nhất non sông giờ đây trở thành mục tiêu hàng đầu của mọi người Việt Nam yêu nước thương nòi và đó cũng chính là quyết tâm không lay chuyển của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Người khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”.

Cùng với những quyết sách sáng suốt, những chỉ đạo chiến lược, tài tình, Bác cũng truyền cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tình yêu thương vô bờ bến, niềm tin mãnh liệt vào ngày toàn thắng qua những bức thư, những bài thơ đi sâu vào lòng người như Thơ chúc Tết năm 1968:

“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,

Thắng trận tin vui khắp nước nhà.

Nam - Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.

Tiến lên!

Toàn thắng ắt về ta!”.

Hay bài thơ chúc Tết năm 1969:

“… Vì độc lập, vì tự do,

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào,

Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,

Bắc - Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!”

Cho đến những ngày sắp phải đi xa về với “thế giới người hiền”, Trong bản Di chúc thiêng liêng, Bác vẫn giữ một niềm tin sắt đá: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”. Người căn dặn: “CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

Còn non, còn nước, còn người,

Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!”

Và để lại “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới". Bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là những lời căn dặn cuối cùng đầy nhiệt huyết, thắm đượm tình người của một người cộng sản chân chính, một người chiến sĩ kiên trung đã hiến dâng cả cuộc đời vì nền độc lập cho dân tộc, thống nhất cho Tổ quốc.

Nhờ vậy mà ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, với lòng kính yêu và thương tiếc vô hạn, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã biến đau thương thành hành động cách mạng và liên tiếp giành được những chiến công vang dội: Cuộc tiến công chiến lược năm 1972; chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng cuối năm 1972; và đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975. Đúng 11 giờ 30 phút trưa ngày 30/4/1975, lá cờ cách mạng phấp phới tung bay trên nóc phủ Tổng thống chính quyền Sài Gòn, báo hiệu chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ kính yêu toàn thắng, miền Nam đã được hoàn toàn giải phóng, non sông nối liền một dải, đất nước thu về một mối. Từ đây, Nam - Bắc sum họp một nhà, chung vui niềm vui thống nhất. Khát vọng “nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành hiện thực.

Chiến thắng 30/4 là một trong những mốc son chói lọi nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Đó là biểu tượng sáng ngời của Chủ nghĩa anh hùng Cách mạng Việt Nam, đỉnh cao của khí phách và trí tuệ của con người Việt Nam; là chiến thắng của sự lãnh đạo tài tình, sáng tạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, của sự ủng hộ giúp đỡ chí tình của bạn bè quốc tế, của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới.

Chiến tranh đã lùi xa, lớp bụi thời gian có thể xóa nhòa đi nhiều thứ trong cuộc sống, nhưng những cống hiến, hy sinh, mất mát của các thế hệ cha anh đi trước vì nền độc lập, tự do, thống nhất đất nước sẽ vẫn còn mãi trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Giờ đây, mỗi sớm mai thức dậy, được chào ngày mới an lành, hạnh phúc, chúng ta càng thấm thía giá trị cuộc sống độc lập, tự do, của hòa bình, thống nhất. Để rồi trong niềm vui hân hoan thái bình ấy, chúng ta càng thêm biết ơn công lao trời biển của Bác Hồ kính yêu đã dành cho nước cho dân, củahàng triệu người con ưu tú khác đã anh dũng chiến đấu, hy sinh trong các cuộc kháng chiến, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; càng trân trọng thành quả cách mạng của dân tộc, trân trọng nền hòa bình, độc lập, thống nhất hôm nay. Hướng tới kỷ niệm ngày “Đất nước trọn niềm vui”, với tất cả tinh thần biết ơn Đảng, ơn Bác, ơn các bậc tiền bối, chúng ta kiên quyết bảo vệ những gì đã giành được, nỗ lực phấn đấu hết sức mình, giữ vững độc lập tự do, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc để con cháu Lạc Hồng hôm nay và muôn đời sau luôn được sống trong hòa bình, hạnh phúc.

Thu Hiền

Thứ Hai, 1 tháng 4, 2024

CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM QUẬN 5 LẦN THỨ XIII, NHIỆM KỲ 2024 - 2029

 “ÐẠI ĐOÀN KẾT” - “ÐẠI THÀNH CÔNG”

BÀI HỌC CHỮ “ĐỒNG” TRONG DI SẢN HỒ CHÍ MINH


      Kế thừa và phát triển truyền thống đoàn kết của dân tộc từ Hội nghị bô lão Diên Hồng đến “tập hợp bốn phương manh lệ”, Hồ Chí Minh xây dựng tinh thần đoàn kết mang hàm lượng khoa học, cách mạng và nhân văn. Tư tưởng đại đoàn kết là sợi chỉ đỏ xuyên suốt sự nghiệp cách mạng của Người. Cứ mỗi độ Tết đến Xuân về, trong Thơ chúc Tết hay Thư chúc mừng năm mới, Người luôn dành tình cảm đặc biệt với đồng bào, đồng chí, người Việt Nam ở nước ngoài và bè bạn quốc tế, trong đó không quên chúc đồng bào đoàn kết với một năng lượng mới, sinh khí mới, niềm vui mới, tràn đầy niềm tin và nhựa sống.

Đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, là đòi hỏi khách quan của cách mạng, được Người rút ra thành những bài học kinh nghiệm lịch sử quý giá, những kết luận có tính chân lý: “Đoàn kết làm ra sức mạnh”; “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”; “Đoàn kết là một lực lượng vô địch”; “Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc”; “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công”. “Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”.

Đúc kết lại, đó là bài học chữ “đồng”: “Dân ta xin nhớ chữ đồng: Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!”. Trong thực tế cách mạng, Hồ Chí Minh chỉ rõ đoàn kết như một mục tiêu, một nhiệm vụ của Đảng: “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC”. Vì vậy, củng cố, tăng cường đoàn kết là phải đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế.

Đoàn kết ở tầm “Đại đoàn kết” trong tư tưởng Hồ Chí Minh phải lấy lợi ích tối cao của Tổ quốc, của nhân dân là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh làm nền tảng và tôn trọng, quan tâm lợi ích chính đáng của cá nhân. Đoàn kết rộng rãi tất cả các tầng lớp, các dân tộc anh em, đồng bào lương, giáo, đảng phái, ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ theo phương châm “cầu đồng tồn dị”; bao dung, khoan dung, độ lượng, nhân ái, nhân nghĩa, xóa bỏ mọi thành kiến. Đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh là tìm mẫu số chung của dân tộc thay vì khoét sâu sự cách biệt, quy tụ thay vì loại trừ.

Hồ Chí Minh đánh giá cao, đầy đủ, toàn diện vai trò của quần chúng nhân dân. Di sản của Người cho thấy trong thế giới ngày nay, không có gì mạnh mẽ hơn sức mạnh đoàn kết của nhân dân; không có cái gì có thể chống lại sự đoàn kết của nhân dân; không có cái gì quý báu hơn nhân dân; không có gì ngăn cản được mặt trời mọc, không ai có thể đi ngược lại ý muốn của nhân dân. Trong xã hội không có gì đẹp đẽ hơn và vinh dự hơn là phục vụ nhân dân. Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn.

Đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải ở lời nói, khẩu hiệu mà biến thành lực lượng vật chất có tổ chức. Đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã làm nên Cách mạng Tháng Tám thành công. Đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến thắng lợi. Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhân dân ta đã giành được thắng lợi trong công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc. “Đại đoàn kết” đi tới “Đại thành công”.

Vẹn nguyên giá trị của “Thế nước - Lòng dân”

Năm 2023, cùng với thế giới, chúng ta phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức bất thường, phức tạp hơn nhiều dự báo. Đó là hậu quả nặng nề kéo dài của đại dịch Covid-19; xung đột Nga-Ukraine, xung đột Hamas-Israel tại dải Gaza; thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu vẫn diễn biến phức tạp, khó lường; kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm…

Tuy vậy, Việt Nam vẫn là điểm sáng trong bức tranh không mấy sáng của nền kinh tế toàn cầu. Hoạt động đối ngoại là điểm sáng nổi bật của năm 2023. Sức mạnh đoàn kết đã tỏ rõ một dân tộc không ngã tay chèo trước sóng cả, tạc vào thế kỷ “dáng đứng Việt Nam”. Càng trong gian nan, thử thách, hoạn nạn, tinh thần đoàn kết của dân ta càng được củng cố, bồi đắp, nâng cao thể hiện ở tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách. Một Việt Nam được định vị bằng sức mạnh của ý Đảng - lòng dân, lòng dân - ý Đảng dưới ánh sáng tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc có lúc, có nơi chưa được quan tâm và phát huy đầy đủ. Các nguồn lực và tài năng sáng tạo của nhân dân chưa được phát huy tốt. Hoạt động của Mặt trận và các tổ chức chính trị-xã hội cả nội dung và phương thức có mặt chưa theo kịp yêu cầu của tình hình mới. Quyền làm chủ của nhân dân có lúc, có nơi còn bị vi phạm. Nguyên nhân và cũng là bài học lớn từ những thành tựu có ý nghĩa lịch sử và hạn chế, khuyết điểm là vun bồi “thế trận lòng dân”, “yên dân” để có được “Thế nước - Lòng dân”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả.

Để có được đoàn kết rộng rãi, vững chắc, lâu dài cần phải kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh. Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc làm điểm tương đồng. Đó là tư tưởng xuyên suốt của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII. Cần một hệ giải pháp đồng bộ cả kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đối ngoại, trong đó những điểm căn cốt nhất là tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh; đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự nhất trí, thống nhất trong Đảng để Đảng đúng tầm, xứng danh lãnh đạo.

Phát huy thật sự dân chủ xã hội chủ nghĩa vì đó là của quý báu nhất của nhân dân để khẳng định địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Phải thật sự trọng dân, tin dân, hiểu dân, học dân, hỏi dân; lắng nghe, tiếp thu ý kiến, giải quyết khó khăn, vướng mắc, nguyện vọng chính đáng của dân. Giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích các thành viên trong xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, bảo đảm mỗi người dân đều được hưởng thành quả của công cuộc đổi mới. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, phát huy vai trò của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước; bảo đảm tác dụng, hiệu quả thực chất hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội, tạo sự đồng thuận xã hội.

Xét đến cùng, nhân tố có ý nghĩa quyết định là con người vì mọi việc đều do người làm ra. Công cuộc đổi mới là do con người, vì con người; con người là trung tâm, mục tiêu của đoàn kết toàn dân tộc. Cùng với xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, phát huy vai trò chủ thể của nông dân, phát triển đội ngũ doanh nhân cả số lượng và chất lượng, xây dựng các giai tầng, đội ngũ trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài, việc xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh cả về số lượng và chất lượng, nâng cao dân trí, nhân lực, trọng dụng nhân tài, trí thức tinh hoa, nhà khoa học đầu ngành phải được coi là điểm mấu chốt.

Với truyền thống: Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng, điều quan trọng nhất là mỗi con dân nước Việt biết khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, quyết tâm, đồng tâm, khát vọng cống hiến, chúng ta sẽ góp phần thực hiện thành công mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam là một nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

 

PGS, TS BÙI ĐÌNH PHONG

Theo Báo Nhân Dân

Thứ Ba, 26 tháng 3, 2024

KỶ NIỆM 93 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH (26/3/1931 - 26/3/2024)

 NHỚ NHỮNG LỜI DẠY CỦA BÁC HỒ DÀNH CHO THANH NIÊN

 


Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại luôn dành những tình cảm tốt đẹp cũng như thời gian, công sức, trí tuệ của mình để giáo dục, bồi dưỡng các thế hệ thanh niên Việt Nam đến với cách mạng, tham gia vào quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… Bởi theo Người thanh niên luôn là lực lượng tiên phong, xung kích trên các mặt trận, góp phần xây dựng hoà bình. Bác rất tin tưởng ở thanh niên - lực lượng hậu bị của Đảng và là lực lượng cách mạng cho đời sau.

Ngay từ thời trẻ, Người đã ý thức được vai trò của thanh niên trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc là vô cùng to lớn. Như tình cảm của một người cha đối với con, Bác Hồ hiểu rõ những ưu, nhược điểm của thanh niên nước ta. Bác luôn căn dặn thanh niên: “Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà. Phải học tập mãi, tiến bộ mãi, mới thật là thanh niên”. Bác luôn nhấn mạnh đến việc học tập, vấn đề cốt lõi để các thế hệ thanh niên trang bị cho mình sự hiểu biết, vốn kiến thức, một trong những điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho các thế hệ thanh niên có thể vươn mình ra biển lớn, lấy sức trẻ làm giàu cho Tổ quốc, quê hương.

Có thể khẳng định rằng, chăm lo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã dành cho thế hệ trẻ những tình cảm và sự quan tâm sâu sắc.

Nhân dịp kỷ niệm 85 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (26/3/1931-26/3/2016). Nhân dịp này, xin được trích dẫn những lời dạy mà lúc sinh thời Bác đã dành cho các thế hệ thanh niên Việt Nam để thấy được những tình cảm sâu sắc, sự quan tâm bồi dưỡng những thế hệ thanh niên của Bác kính yêu.

 Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”.

            (Thư gửi Thanh niên An Nam, 1925)


“… ngày nay chúng ta phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên toàn cầu. Trong công cuộc kiến thiết đó, nhà nước trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai cùng các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

 (Thư gửi các em học sinh nhân Ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tháng 9/1945).


“Hỡi anh chị em thanh niên Nam Bộ!

Tôi thề cùng các bạn giữ vững nền độc lập tự do của nước Việt Nam. Dẫu có phải hy sinh đến nửa số dân tộc, ta cũng quyết hy sinh. Cuộc kháng chiến tự vệ chính nghĩa của dân tộc Việt Nam phải toàn thắng”.

         (“Lời kêu gọi thanh niên Nam Bộ”, ngày 30/10/1945)


“... Một năm khởi đầu từ mùa Xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa Xuân của xã hội.

Vậy qua năm mới, các cháu phải xung phong thực hành “đời sống mới”.

Đời sống mới là:

- Hăng hái, kiên quyết, không sợ khó, không sợ khổ.

- Phải siêng học, phải siêng làm, phải tiết kiệm.

- Việc nên làm (như ủng hộ kháng chiến, tăng gia sản xuất) thì ta không chờ ai nhắc nhủ.

- Việc nên tránh (như tự tư tự lợi) thì ta không đợi ai ngăn ngừa”

(Gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết sắp đến, 1 - 1946, Sđd, tập 4, trang 167)


“… Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó”.

      (“Thư gửi các bạn thanh niên”, ngày 12/8/1947)

         

           “Không có việc gì khó

             Chỉ sợ lòng không bền

             Đào núi và lấp biển

             Quyết chí ắt làm nên”.

 (Bài thơ Bác tặng Đơn vị thanh niên xung phong 312 làm đường tại xã Cẩm Giàng, Bạch Thông, Bắc Kạn, ngày 28/3/1951)


“Ưu điểm của thanh niên ta là hăng hái, giàu tinh thần xung phong. Khuyết điểm là ham chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân, bệnh anh hùng. Rất mong toàn thể thanh niên ta ra sức phát triển những ưu điểm và tẩy sạch những khuyết điểm ấy. Huy hiệu của thanh niên ta là “tay cầm cờ đỏ sao vàng tiến lên”. Ý nghĩa của nó là: Phải xung phong làm gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng. Thanh niên phải thành một lực lượng to lớn và vững chắc trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Đồng thời phải vui vẻ, hoạt bát. Bác mong mỗi cháu và toàn thể các cháu nam nữ thanh niên cố gắng làm tròn nhiệm vụ, để xứng đáng với cái huy hiệu tươi đẹp và vẻ vang ấy”.

         (Thư gửi thanh niên, tháng 4/1951, Hồ Chí Minh toàn tập)


 “Kháng chiến càng tiến tới, công việc ngày càng nhiều, chúng ta cần củng cố và phát triển Ðội TNXP để bảo đảm thêm công việc kháng chiến và đào tạo cán bộ sau này. Nhiệm vụ của Ðội TNXP là xung phong mọi việc bất kỳ việc khó, việc dễ và phục vụ đến ngày kháng chiến thành công. Ðó là nhiệm vụ rất vẻ vang của thanh niên”.

                             (“Ðội Thanh niên xung phong” đăng trên báo Nhân Dân số 147, 1953)


 “Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào?”

(Bài nói chuyện với sinh viên và thanh niên trong Lễ khai mạc Trường Đại học Nhân dân Việt Nam ngày 19/11/1955)

 

“Tính trung bình thanh niên chiếm độ 1 phần 3 tổng số nhân dân – tức là một lực lượng to lớn. Lực lượng to lớn thì phải có nhiệm vụ to lớn”

               (“Nhiệm vụ của thanh niên ta”, báo Nhân dân ngày 20/12/1955)


“Người ta thường nói: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Để thật xứng đáng là người chủ của một nước xã hội chủ nghĩa, thanh niên ta quyết tâm thực hiện mấy điều sau đây:

- Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng tức là khiêm tốn, đoàn kết, thực hành chủ nghĩa tập thể, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, người tiên tiến thì giúp đỡ người kém, người kém phải cố gắng để tiến lên, ra sức cần kiệm xây dựng nước nhà.

- Phải nghiêm khắc chống chủ nghĩa cá nhân như tự tư tự lợi, tự kiêu, tự mãn, chỉ tham việc gì có danh tiếng, xem khinh những công việc bình thường. Phải chống tham ô, lãng phí.

- Phải cố gắng học hỏi để không ngừng nâng cao trình độ chính trị, văn hóa và kỹ thuật để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.”

(Bài nói chuyện tại Đại hội Thanh niên tích cực lao động xã hội chủ nghĩa, ngày 17/3/960)

 

“Thanh niên ta phải cố gắng học. Do hoàn cảnh trong xã hội cũ hạn chế nên số đông thanh niên công – nông ta ít được học. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì nhất định phải có học thức”.

(Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam, ngày 24/3/1961)


 “Bác rất yêu quý thanh niên:

- Vì thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách, dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai - tức là các cháu nhi đồng.

- Vì thanh niên là người xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế và văn hóa trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

- Vì thanh niên là lực lượng cơ bản trong bộ đội, công an và dân quân tự vệ, đang hăng hái giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ Tổ quốc”.

(Bài nói chuyện tại Đại hội toàn quốc lần thứ hai của Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, ngày 20/12/1961)

 “Phải không sợ khổ, không sợ khó, thực hiện đâu cần thanh niên có, việc khó có thanh niên, gặp gian khổ phải đi lên phía trước, khi hưởng thụ phải hưởng thụ sau mọi người”.

                          (Bài phát biểu tại Hội nghị Cán bộ toàn miền Bắc, tháng 9/1962)

 

Đảng, Chính phủ và Bác rất chú ý đến thanh niên. Bác vui lòng khen ngợi những cố gắng của thanh niên… Thanh niên phải xung phong đến những nơi khó khăn gian khổ nhất, nơi nào người khác làm ít kết quả, thanh niên phải xung phong đến làm cho tốt.

Trọn đời trung thành với sự nghiệp cách mạng, với Tổ quốc, với Đảng, với giai cấp.

Không sợ khổ, không sợ khó, thực hiện: "Đâu cần thanh niên có, việc gì khó thanh niên làm", "gian khổ thì đi trước, hưởng thụ sau mọi người".

Không nên tự cho mình là tài giỏi, không khoe công, không tự phụ.”

 (Bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam toàn miền Bắc, ngày 22/9/1962)

 

“Bác muốn dặn thêm các cháu mấy điều:

- Phải luôn luôn nâng cao chí khí cách mạng “trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Không sợ gian khổ, hy sinh, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất và anh dũng chiến đấu, xung phong đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

 - Phải tin tưởng sâu sắc ở lực lượng và trí tuệ của tập thể, của nhân dân. Tăng cường đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau. Nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật. Kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tự do.

- Luôn luôn trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn và giản dị. Chống kiêu căng, tự mãn. Chống lãng phí, xa hoa. Thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh, để giúp nhau cùng tiến bộ mãi.

- Ra sức học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và quân sự để cống hiến ngày càng nhiều cho Tổ quốc, cho nhân dân.

- Luôn luôn chú ý dìu dắt và giáo dục thiếu niên và nhi đồng, làm gương tốt về mọi mặt cho đàn em noi theo”.

                                                                             (Thư gửi thanh niên Ngày 2/9/1965)

 

“Các cháu xứng đáng là những thanh niên ưu tú của nhân dân Việt Nam anh hùng. Và, giặc Mỹ đã thua to ở hai miền nước ta, chúng đang thất bại ngày càng nặng nề hơn ở miền Nam, nhưng chúng vẫn rất ngoan cố chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta. Vì vậy, Bác nhắc nhở các cháu: Phải nêu cao ý chí chiến đấu, tinh thần cảnh giác cách mạng, cùng quân dân ta quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược; luôn luôn đoàn kết, ra sức học tập chính trị, kỹ thuật, văn hóa để ngày càng tiến bộ, đem hết nhiệt tình tài năng của tuổi trẻ cống hiến thật nhiều cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước”.

 (Thư khen ngợi đơn vị TNXP 333 có nhiều thành tích xuất sắc trên các tuyến đường Khu Bốn ác liệt, ngày 27/1/1969)


  “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”.

                                                                                                                                                                                                                                  (Di Chúc của Người)

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2024

KỶ NIỆM 78 NĂM THÀNH LẬP NGÀNH THỂ THAO VIỆT NAM (27/3/1946 – 27/3/2024)

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI NỀN THỂ DỤC THỂ THAO VIỆT NAM

Ngày 27/3/1946, Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta đã viết bài Thể dục và sức khỏe, qua đó kêu gọi toàn dân tập thể dục, đăng trên báo Cứu quốc, cơ quan ngôn luận của Tổng bộ Việt Minh (1). Người nhấn mạnh: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công.

Bác đặt vấn đề và nêu rõ vị trí của Thể dục thể thao trong đời sống xã hội: “Mỗi một người dân yếu ớt tức làm cho cả nước yếu ớt một phần; mỗi một người dân mạnh khỏe, tức là góp phần cho cả nước mạnh khỏe”. Bác khẳng định: “Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi một người dân yêu nước”. Bác chỉ dẫn: “Mỗi người lúc ngủ dậy, tập ít phút thể dục, ngày nào cũng tập thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ. Như vậy là sức khỏe. Dân cường thì quốc thịnh. Tôi mong đồng bào ta ai cũng gắng tập thể dục. Tự tôi ngày nào tôi cũng tập”.

Bác Hồ là người sáng lập nền thể dục thể thao cách mạng Việt Nam. Có thể các tài liệu, tư liệu “Bác Hồ nói về Thể dục thể thao” tập hợp chưa được thật đầy đủ, nhưng với các bài viết, một số phát biểu của Người trong các cuộc đến thăm đồng bào các tỉnh, bà con xã viên hợp tác xã nông nghiệp, công nhân các nhà máy, công trường, chiến sĩ các lực lượng vũ trang, bộ đội, dân quân tự vệ, học sinh, sinh viên, các đoàn vận động viên từ năm 1946 đến tháng 9/1969 trước ngày Người đi xa... đã cho thấy sự quan tâm của Bác với công tác thể dục thể thao và vai trò của nó trong lao động, công tác, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Sau lời kêu gọi tập thể dục ngày 27/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn viết “Thư gửi Hội nghị Cán bộ thể dục thể thao toàn miền Bắc” vào tháng 3/1960, Thư gửi Đại hội Thể thao Lực lượng mới trỗi dậy (GANEFO Jakarta Indonesia 1963). Trước đó, Bác đến thăm trường Trung cấp Thể dục thể thao Trung ương ngày 14/12/1961, tiếp đón đoàn thể thao quốc gia (miền Bắc) thi đấu thắng lợi ở Đại hội Thể thao châu Á lần thứ nhất (GANEFO Phnom Penh tháng 11) tại Phủ Chủ tịch ngày 19/12/1966. Trong các tác phẩm viết về Bác Hồ của các đồng chí lãnh đạo Đảng, nhà nước ta, những thước phim tư liệu, tấm ảnh của các nhà báo cũng đã ghi lại những hoạt động thể dục thể thao của Bác, phần nào nói lên sự quan tâm đặc biệt của Người với công tác Thể dục thể thao nước nhà.

Bác từng căn dặn: “Muốn lao động sản xuất tốt, công tác và học tập tốt thì cần có sức khỏe. Muốn giữ gìn sức khỏe thì nên thường xuyên tập thể dục thể thao”. Lớp huấn thị của Bác được truyền đi trong những ngày đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1961-1965, thời kỳ sản xuất xây dựng rất khẩn trương, cả nước nỗ lực xây dựng củng cố quốc phòng, hồ hởi học tập văn hóa tiến vào khoa học kỹ thuật đang là một đòi hỏi cấp bách mà sức khỏe của nhân dân là mối quan tâm lớn của Bác hồi bấy giờ.

ết Tân Tỵ (1941), sau gần 30 năm xa Tổ quốc, Bác về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Trong Chương trình Việt Minh, Bác viết: “Khuyến khích và giúp đỡ nền thể dục quốc dân, làm cho nòi giống ngày thêm mạnh” và “Trẻ em được chính phủ đặc biệt săn sóc về thể dục, trí dục và đức dục” (2). 14 năm sau, khi hòa bình năm 1954, tại hội nghị sản xuất tháng 7/1955 Bác dạy: “Nếu dân đói là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân dốt là Đảng, chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và chính phủ có lỗi. Vì vậy cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân”.

Bài nói chuyện của Bác tại Hội nghị cán bộ Công đoàn tháng 3/1959, Bác dạy: “Chúng ta phải quý trọng con người”. Trong báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã nói: “Con người là vốn quý nhất của chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ và bồi dưỡng sức khỏe của con người là mục tiêu cao quý của các ngành y tế và thể dục thể thao (Văn kiện Đại hội Đảng tập I, tr 77, Nxb Sự thật).

Tháng 1/1946, tức là 4 tháng sau khi nắm chính quyền, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Bác ký Sắc lệnh số 14/SL ngày 30/1/1946 về công tác thể dục thể thao với mục đích: “Xét vấn đề thể dục rất cần để tăng cường sức khỏe quốc dân và cải tạo nòi giống (Sự nghiệp TDTT của Đảng và Nhà nước tr.24, Nxb Y học và TDTT). Sắc lệnh 14/SL xác định trách nhiệm của Nhà nước ta và các ngành liên quan đối với công tác TDTT, cụ thể là các bộ: Nội vụ, Y tế, Thanh niên, Tài chính, Giáo dục. Các ngành phải giúp đỡ Hội đồng chính phủ nghiên cứu phương pháp và thực hành thể dục thể thao trong toàn quốc.

Bác nhấn mạnh: “Luyện tập thể dục bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi một người dân yêu nước”. Lời dạy của Người vô cùng thiêng liêng vì đó là Lời kêu gọi của non sông đất nước, kêu gọi lòng yêu nước, trách nhiệm với đất nước của mỗi người dân đất Việt. Bác đã chỉ cho chúng ta khái niệm rất mới về hoạt động thể dục thể thao. Theo Bác, Thể dục thể thao không chỉ là giải trí đơn thuần, không phải dành riêng cho một ai mà là của tất cả mọi người. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và công tác thể dục thể thao, “cũng là một công tác trong những công tác cách mạng” (Thư gửi Hội nghị Cán bộ TDTT toàn miền Bắc ngày 31/3/1960). Bác muốn truyền cảm hứng là người dân yêu nước thì phải cố gắng tập thể dục, bồi bổ sức khỏe. Hay nói cách khác: Tập luyện thể dục thể thao bồi bổ sức khỏe là một việc ích nước lợi dân. Dân cường thì quốc mới thịnh.

Bác Hồ cũng là người công dân số 1 gương mẫu tập luyện thể dục bồi bổ sức khỏe từ thời thanh niên cho đến những năm tháng bôn ba xứ người. Người thường xuyên tập luyện thể dục, tập võ dân tộc, bơi lội, đi bộ, leo núi... Bác là tấm gương sáng trong tập luyện giữ sức khỏe.

“Tự tôi ngày nào tôi cũng tập”, đó không chỉ là sự khẳng định của Bác về bản thân, mà còn là lời hiệu triệu cho những người con đất Việt.

(1) - Báo Cứu quốc số 199 ra ngày 27/3/1946.

(2) - Chương trình Việt Minh tháng 10/1941- Bản in lito Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (Hà Nội). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 7, Tr.466-471.

Vũ Hòa

Thứ Hai, 11 tháng 3, 2024

KỶ NIỆM 93 NĂM THÀNH LẬP ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH (26/3/1931 – 26/3/2024)

 

TÌNH CẢM CỦA BÁC HỒ ĐỐI VỚI THANH NIÊN VIỆT NAM

 


Sinh thời, Bác Hồ luôn quan tâm đến thanh niên, học sinh, sinh viên. Trong Thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên đán năm 1946, Người viết: "Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội". Bác đánh giá cao vai trò của thanh niên với tư cách là một lực lượng hăng hái trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: "Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà. Phải học tập mãi, tiến bộ mãi, mới thật là thanh niên" và "Thanh niên ta rất hăng hái. Ta biết hợp lòng hăng hái đó lại và dìu dắt đúng đắn thì thanh niên sẽ thành một lực lượng rất mạnh mẽ". Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời. Trong thư gửi cho học sinh nhân ngày khai trường mùa thu năm 1945, Bác Hồ đã dạy: "Từ giờ phút này trở đi, các cháu được hưởng một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam... Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu".

Trong những ngày đêm ác liệt, bộn bề công việc lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nhưng khi được tin học sinh Vũ Chí Thành, đội viên đội cảm tử quân, hy sinh ở Hà Nội ngày 20/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh liền viết thư chia buồn với bác sĩ Vũ Đình Tụng, cha của liệt sĩ với những lời cảm động và đầy khích lệ: "Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi: vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn sống mãi với non sông Việt Nam...".

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, vừa mới trở về thủ đô Hà Nội, tuy bận trăm công nghìn việc, Bác Hồ vẫn theo dõi các hoạt động của tuổi trẻ và phong trào thanh niên, học sinh, sinh viên. Ngày 18/12/1954, Bác đã đến thăm các thầy, cô giáo và học sinh các trường Nguyễn Trãi, Trưng Vương, Chu Văn An. Tại đây, Bác đã khẳng định: "Thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc. Dân tộc bị nô lệ thì thanh niên cũng bị nô lệ. Dân tộc được giải phóng thì thanh niên mới được tự do. Vì vậy, thanh niên phải hăng hái tham gia cuộc đấu tranh của dân tộc... Ngày nay ta đã được độc lập, tự do, thanh niên mới thật là người chủ tương lai của nước nhà. Muốn xứng đáng vai trò người chủ thì phải học tập".

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đoàn được triệu tập từ 25/10/1956 đến 4/11/1956 tại Hà Nội, Bác Hồ đã đến dự. Tại Đại hội, Người ân cần căn dặn đoàn viên, học sinh, sinh viên là: "Muốn đoàn kết củng cố và phát triển thì tất cả đoàn viên phải làm gương mẫu:

- Phải giữ vững đạo đức cách mạng: phải khiêm tốn, cần cù hăng hái, dũng cảm. Phải tránh tư tưởng kiêu ngạo, công thần, tự tư, tự lợi.

- Phải xung phong trong mọi công tác; xung phong là phải đi trước, làm trước để lôi cuốn quần chúng, chứ không phải là xa rời quần chúng.

- Phải cố gắng học tập chính trị, văn hoá, nghề nghiệp để tiến bộ mãi, để sẵn sàng trở thành cán bộ tốt, đảng viên tốt.

- Phải rèn luyện thân thể cho khoẻ mạnh, khoẻ mạnh thì mới đủ sức để tham gia một cách dẻo dai, bền bỉ những công việc ích nước, dân".

Sự quan tâm chăm sóc và những lời dạy bảo ân cần, sâu sắc của Bác Hồ kính yêu đã làm các đại biểu hết sức xúc động và thấm thía. Đại hội đã hứa với Bác sẽ ra sức thực hiện tốt những lời Bác dạy, quyết phấn đấu không mệt mỏi cho lý tưởng độc lập, tự do, thống nhất nước nhà và xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Bác đã chỉ cho thanh niên nước ta.

Bước sang năm 1960, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III được tổ chức từ ngày 23/3 đến 25/3/1961 tại Hà Nội. Đại hội đã vinh dự được đón Bác Hồ và đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn đến thăm và nói chuyện. Người ân cần chỉ ra cho toàn thể cán bộ, đoàn viên và thanh niên phương hướng tu dưỡng rèn luyện về mọi mặt công tác của Đoàn: Thanh niên "cần phải làm đầu tàu, làm gương mẫu trong phong trào thi đua yêu nước. Phải thực hiện khẩu hiệu: "Đâu Đảng cần thì thanh niên có, việc gì khó có thanh niên làm". Bác dạy: "Thanh niên phải cố gắng học... Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có học thức. Cần phải học văn hoá, chính trị, kỹ thuật. Cần phải học lý luận Mác- Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày... Học đi đôi với hành". Những lời dạy bảo quý báu của Bác Hồ tại Đại hội thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Bác đối với vấn đề đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ hậu bị cho Đảng.

Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, thanh niên miền Bắc thực hiện phong trào "Ba sẵn sàng". Bác Hồ luôn theo dõi sự phát triển của phong trào "Ba sẵn sàng", Người kêu gọi thanh niên, học sinh, sinh viên: "Các cháu thanh niên, gái cũng như trai, hãy thực hiện tốt "Ba sẵn sàng", xung phong dâng tất cả tinh thần và lực lượng của tuổi trẻ cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, cho Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội". Khi tuổi trẻ lập được chiến công, Bác khen ngợi: "Bác rất vui lòng khen ngợi các cháu thanh niên trong cả nước... các cháu là thế hệ anh hùng trong thời đại anh hùng. Bác mong các cháu đều xứng đáng là những anh hùng trong sự nghiệp cách mạng tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc và xây dựng xã hội mới". Tại lễ kỷ niệm lần thứ 35 ngày thành lập Đoàn (26/3/1966), Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước (Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng)... đã đến với tuổi trẻ. Bác Hồ dạy: "Với một thế hệ thanh niên hăng hái và kiên cường chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Vì vậy, Bác rất tự hào, sung sướng và thấy mình trẻ lại, thấy tương lai của dân tộc ta vô cùng vững chắc và vẻ vang". Tuân theo lời Bác dạy, nhân ngày truyền thống vẻ vang của Đoàn, Ban Chấp hành trung ương Đoàn đã ra lời kêu gọi đoàn viên, thanh niên phát huy khí thế "Ba sẵn sàng", hăng hái tiến lên hàng đầu trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, quyết tâm đem lá cờ trăm trận trăm thắng của Đảng và Bác Hồ vĩ đại đi tới đích thắng lợi cuối cùng.

Năm 1969, dù sức khoẻ đã yếu, Bác Hồ vẫn thường xuyên theo dõi tin tức hoạt động học tập và lao động tại các nhà trường. Người rất vui khi biết học sinh Việt Nam trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt vẫn cố gắng học tập và lao động sản xuất. Chiều 19/5/1969, sau khi các thầy thuốc kiểm tra xong sức khoẻ, Bác ngồi viết thư khen các cháu học sinh thôn Phú Mẫn, Yên Phương, Bắc Ninh. Bức thư có đoạn: "Bác rất vui lòng biết các cháu vừa học tập tốt vừa tham gia sản xuất tốt... Các cháu là những người chủ tương lai của nước nhà. Bác mong các cháu luôn luôn cố gắng hơn nữa. Bác cũng mong các cháu thiếu niên ở những địa phương khác làm theo các bạn nhỏ ở hợp tác xã măng non Phú Mẫn".

Ngày Quốc khánh 2/9 năm 1969 là ngày toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và tuổi trẻ cả nước chịu một tổn thất lớn lao: Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam qua đời. Vĩnh biệt chúng ta, Bác Hồ đã để lại cho thanh niên Việt Nam "muôn vàn tình thân yêu". Người đánh giá: "Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ" và căn dặn: "Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên". Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết".

Trải qua hơn 90 năm đấu tranh oanh liệt, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và đoàn viên, thanh niên Việt Nam luôn được sự lãnh đạo chăm sóc trực tiếp của Đảng và Bác Hồ. Đánh giá đúng đắn khả năng cách mạng to lớn của thanh niên, Đảng ta và Bác Hồ kính yêu đặc biệt quan tâm tổ chức, bồi dưỡng đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên thành đội quân xung kích của cách mạng, lực lượng hậu bị của Đảng nhằm kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp của giai cấp và dân tộc. Từ "Bức thư tâm huyết" gửi thanh niên Việt Nam hồi đầu thế kỷ đến lời "Di chúc" cuối cùng, Bác Hồ luôn giành cho thanh niên, học sinh, sinh viên Việt Nam tình cảm thương yêu trìu mến và sự chăm sóc ân cần lớn lao. Tên tuổi, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người mãi mãi khắc sâu trong muôn triệu trái tim của các thế hệ thanh niên nguyện chiến đấu và chiến thắng dưới ngọn cờ vẻ vang của Người.      

                                                                                              Nguyễn Quang Tuấn

 

KỶ NIỆM 94 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN (26/3/1931 – 26/3/2025)

  Nhớ những lời dạy của Bác Hồ dành cho thanh niên Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại luôn dành những...