Thứ Hai, 18 tháng 9, 2023

KỶ NIỆM 78 NĂM NGÀY NAM BỘ KHÁNG CHIẾN (23/9/1945 – 23/9/2023)

 NAM BỘ KHÁNG CHIẾN, SỰ TIÊN LIỆU, TIÊN TRI

CỦA ĐẢNG, BÁC HỒ


Bức tranh hào hùng, sôi động của ngày 23-9-1945 có ở ngay trong những lời chỉ đạo của Đảng, trong thư của Bác Hồ gửi đồng bào Nam Bộ. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, gìn giữ độc lập dân tộc đã để lại những trang sử hào hùng, vẻ vang. Trang đầu tiên trong những tháng năm bất khuất ấy là Ngày Nam Bộ kháng chiến.

Giở lại dòng tư liệu

Ngày 4-9-1945, tức là chỉ sau 2 ngày nhân dân ta giành được độc lập, thực dân Pháp được sự hỗ trợ của quân Anh đã liên tiếp khiêu khích, gây hấn hòng chiếm nước ta một lần nữa. Ngày 14-9-1945, tướng Gracey, trưởng phái bộ quân đồng minh ở Sài Gòn, để ra thông báo cấm nhân dân ta mang vũ khí, đi biểu tình và ra lệnh tước vũ khí lực lượng vũ trang cách mạng. Tiến thêm một bước nữa, ngày 17-9, ban hành lệnh giới nghiêm và cấm báo chí xuất bản. Ngày 19-9-1945, Cédille, được De Gaulle phong chức ủy viên Cộng hòa Pháp ở Nam Đông Dương, đã họp báo ngang ngược tuyên bố: Việt Minh không đại diện cho nhân dân Việt Nam và bất lực không giữ được trật tự. Pháp có nhiệm vụ lập lại trật tự và sẽ thành lập một chính phủ theo đường lối của De Gaulle. Quần chúng bất bình, các cuộc mít tinh biểu tình diễn ra khắp nơi, tỏ thái độ ủng hộ chính quyền cách mạng và kiên quyết chống Pháp xâm lược để bảo vệ chủ quyền dân tộc.

 Sau nhiều ngày khiêu khích, đêm 22 rạng sáng 23-9-1945, quân Pháp chiếm Sở Bưu điện, Sở Cảnh sát, trụ sở Ủy ban Hành chính Nam Bộ và Quốc gia tự vệ cuộc; mở đầu cho cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai. Nhưng chúng đã bị quân dân Sài Gòn, cùng Nam Bộ đứng lên chống trả quyết liệt.

Biết trước âm mưu địch


           Nhận định về ngày 23-9 ở Nam Bộ, chính các nhà nghiên cứu quân sự của Pháp đã xác nhận: Việt Minh yếu hơn về trang bị vũ khí, nhưng tinh thần của họ mạnh hơn ta gấp bội, bởi họ có ý chí quyết thắng và lường trước được diễn biến. Quả đúng như vậy, Xứ ủy và Trung ương đã biết sớm và rõ âm mưu của giặc Pháp. Ngay sau Quốc khánh 2-9, Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ được thành lập. Ngày 9-9-1945, Tổng bộ Việt Minh ra lời kêu gọi ngay tại Sài Gòn: “Trong hạ tuần trước, chúng ta đã đem lại chánh quyền cho dân tộc một cách rất hòa bình và nhanh chóng. Nhưng bây giờ chúng ta sắp phải đem xương máu ra để giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc. Bởi thực dân Pháp đang muốn xâm phạm nó.

Giặc Pháp đã động binh ở đôi tỉnh bên Lào và định vượt dãy Trường Sơn để đè ép ta một lần nữa. Song chúng đã bị quân giải phóng từ Bắc vào đánh chặn. Những vụ định đổ bộ của quân Pháp ở vào miền duyên hải đã bị đánh lui...

 Hỡi anh em, chị em đồng bào thân tín !

...Muốn tránh nỗi lầm than và cay đắng của bảy tám mươi năm qua, chúng ta hãy lột mặt nạ bọn khiêu khích..., thi hành triệt để huấn thị của chánh phủ lâm thời...”.

Ngay chiều 23-9-1945, Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ phát đi lời kêu gọi “Đồng bào hãy đoàn kết để bảo vệ quốc gia; thực hiện tổng đình công và bất hợp tác với địch; phá hoại đường giao thông, phong tỏa vận chuyển, tiếp tế để bao vây địch”.

Ngày 24-9-1945, chính phủ lâm thời gửi huấn lệnh cho quân và dân Nam Bộ “Lòng quyết tâm dũng cảm của nhân dân Nam Bộ chống lại quân xâm lược chẳng những làm cho đồng bào cả nước khâm phục, mà lại còn chứng tỏ cho cả thế giới đều biết các quyền độc lập của nhân dân Nam Bộ...”.

Tất cả đã được trù liệu. Một không khí hừng hực, sẵn sàng chiến đấu hy sinh bảo vệ nền độc lập dân tộc lan rộng khắp cả nước.

“Tôi chắc và đồng bào cả nước đều chắc”

Quyết tâm kháng chiến của Xứ ủy và nhân dân Nam Bộ được Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch tán thành. Ngày 26-9-1945, Bác Hồ đã có thư kêu gọi:

“Hỡi đồng bào Nam bộ!

 Nước ta vừa tranh quyền độc lập, thì đã gặp nạn ngoại xâm. Khi còn chiến tranh với Nhật, thì bọn thực dân Pháp hoặc đầu hàng, hoặc chạy trốn. Nay vừa hết chiến tranh thì bọn thực dân Pháp hoặc bí mật, hoặc công khai lại mò lại. Trong 4 năm, họ đã bán nước ta hai lần. Nay họ lại muốn thống trị dân ta lần nữa.

Tôi chắc và đồng bào cả nước đều chắc vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ. Chúng ta nên nhớ lời nói oanh liệt  của nhà đại cách mạng Pháp: “Thà chết tự do hơn sống nô lệ”.

 Tôi chắc và đồng bào Nam Bộ cũng chắc rằng chính phủ và toàn quốc đồng bào sẽ hết sức giúp đỡ những chiến sĩ  và nhân dân đang hy sinh tranh đấu để giữ  vững nền độc lập của nước nhà.

Tôi chắc và tất cả đồng bào đều chắc rằng những người và những  dân tộc yêu chuộng bình đẳng tự do trên thế giới đều đồng tình với chúng ta.

 Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân.

 Chúng ta nhất định thắng lợi vì cuộc tranh đấu của chúng ta là chính đáng.

Tôi chỉ muốn dặn đồng bào Nam Bộ một lời: đối với những người Pháp bị bắt trong chiến tranh, ta phải canh phòng cho cẩn thận, nhưng phải đối đãi với họ cho khoan hồng. Phải làm cho thế giới, trước hết cho dân Pháp, biết rằng: Chúng ta là quang minh chính đại. Chúng ta chỉ đòi độc lập tự do, chứ chúng ta không vì tư thù, tư oán; làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người cướp nước.

Nước Việt Nam độc lập muôn năm!

Đồng bào Nam Bộ muôn năm!”

Tôi chắc và đồng bào đều chắc – rằng, những người và những dân tộc yêu chuộng bình đẳng tự do trên thế giới đều đồng tình với chúng ta; rằng, cuộc kháng chiến nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân. Theo lời kêu gọi tiên tri ấy của Bác Hồ, cả nước đã đứng lên cùng Nam Bộ chiến đấu. Liên tiếp, các đội quân Nam tiến được lệnh lên đường tiến về phía Nam đã kịp thời cùng quân và dân TP Sài Gòn - Chợ Lớn chiến đấu ở mặt trận Bình Lợi... Từ đây, bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp với những trang sử hào hùng bất khuất của dân tộc.

 Hoành Trí (Cục lưu trữ Quốc gia)

+ ảnh (Phát lệnh toàn quốc kháng chiến ở Hà Nội, tháng 12/1946. Ảnh: Tư liệu/TTXVN)


Thứ Năm, 14 tháng 9, 2023

HỒ CHỦ TỊCH VỚI VẤN ĐỀ ĐỌC SÁCH VÀ TỰ HỌC

 HỒ CHỦ TỊCH VỚI VẤN ĐỀ ĐỌC SÁCH VÀ TỰ HỌC


Việc đọc sách nói riêng và thực hiện văn hóa đọc nói chung đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa của xã hội phát triển - văn minh - hiện đại, việc đọc sách giúp cho chúng ta tiếp nhận tri thức văn minh nhân loại, giúp cho từng cá nhân, tổ chức tự hoàn thiện mình để phù hợp với trình độ phát triển của xã hội.

 “Dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta đã sinh ra Người - Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta ”[1]. UNESCO đã vinh danh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”. Người anh hùng ấy, nhà văn hóa kiệt xuất ấy trong suốt cuộc đời mình đã cần mẫn, chăm lo học tập và đặc biệt là đọc sách, báo. Chính quá trình đọc, suy ngẫm và tích tũy kiến thức từ sách vở và thực tiễn cuộc sống không những đã đem lại cho Người khối kiến thức đồ sộ, phong phú, mà còn góp phần tạo nên tư tưởng, đạo đức và phong cách con người Hồ Chí Minh.

Có thể khẳng định rằng, Người là một tấm gương trong sáng, mẫu mực về đọc và vận dụng kiến thức từ sách vở. Và chính Người đã in dấu ấn sâu đậm trong văn hóa đọc, tạo nên văn hóa đọc Hồ Chí Minh. Theo hành trình hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, với những sự kiện nổi bật, có thể rút ra nhiều điều để học tập Bác, làm theo Bác.

Ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu dân, cứu nước. Hành trang của Người lúc đó không chỉ có đôi bàn tay lao động, mà Người còn mang theo cả truyền thống và tinh hoa văn hóa Việt Nam. Những tri thức Người có được là kết quả học tập không ngừng ngay từ gia đình, trong nhà trường, trong sách vở. Những kiến thức ấy không chỉ tạo cho Người vốn tri thức, mà ở Người còn hình thành cả chủ kiến về con đường cứu nước, cứu dân. Đó là nền tảng để Người tiếp tục học tập, tiếp thu kiến thức mới. Khi sang đến Pháp, hoạt động trong phong trào công nhân, tham gia vào Đảng Xã hội, Nguyễn Ái Quốc không những năng nổ trong các hoạt động của phong trào mà còn tranh thủ thời gian đọc các loại sách báo tiến bộ và cả những sách về lịch sử, văn hóa của Pháp và các nước phương Tây. Nhờ có kiến thức nền tảng từ văn hóa dân tộc, từ những hiểu biết về thực tiễn cuộc sống, nên khi đọc Luận cương về các vấn đề thuộc địa và dân tộc của Lê nin đăng trên báo Nhân đạo. Người nhớ lại: “Bài đó khó hiểu, vì có những từ ngữ mà tôi không biết rõ. Nhưng tôi đọc đi đọc lại và dần dần tôi hiểu ý nghĩa của nó một cách sâu sắc. Bản Luận cương làm cho tôi cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi xúc động đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang đứng trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Lựa chọn kiến thức đã đọc điều gì quan trọng nhất mà cách mạng Việt Nam cần và phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Đó là văn hóa đọc Hồ Chí Minh.

Không chỉ đọc sách lý luận chính trị, Người quan tâm và đọc hầu như tất cả các sách về mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa - xã hội… Người đọc nhiều loại sách, đọc trong mọi hoàn cảnh, kể cả khi bị bắt, bị tù đày. Nhà thơ Hồ Chí Minh có cả một tập thơ Nhật ký trong tù, trong đó có bài “Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi””

“Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp,

Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông;

Nay ở trong thơ nên có thép,

Nhà thơ cũng phải biết xung phong”.

Đọc sách, đọc thơ không chỉ cảm thụ, hiểu biết, mà ở Người còn là sự thăng hoa, có chính kiến, sáng tạo.

Có thể dẫn ra nhiều ví dụ trong văn hóa đọc Hồ Chí Minh. Nếu nói một cách ngắn gọn theo phong cách Hồ Chí Minh thì đọc cũng là một hình thức, một phương thức học. Hồ Chí Minh cho rằng học tập là một việc suốt đời. Và chính Người đã nêu tấm gương sáng về việc ngày nào cũng đọc. Khi nói chuyện với các đảng viên hoạt động lâu năm (vào ngày 9 tháng 12 năm 1961), Hồ Chủ tịch đã tâm sự : “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học... Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”. Và với Bác, nguyên lý và phương thức học được tóm gọn trong mấy câu sau: “Học ở trường, học trong sách vở, học lẫn nhau và học dân”.

Học tập tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thiết nghĩ cần học ngay văn hóa đọc của Người, biến việc đọc từ yêu cầu của cuộc sống trở thành nhu cầu chính đáng của mỗi người muốn cầu thị, cầu tiến bộ. Mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên cần trở thành tấm gương sinh động về văn hóa đọc. Để từ đó văn hóa đọc lan tỏa, thấm đẫm trong mỗi tập thể, trong cộng đồng, trong mỗi cơ quan, đơn vị, tạo nên nguồn trí lực dồi dào trong sự phát triển sôi động của thành phố đầu tàu hiện nay và mai sau.

ST.

Thứ Hai, 28 tháng 8, 2023

KỶ NIỆM 78 NĂM NGÀY CÁCH MẠNG THÁNG TÁM THÀNH CÔNG (19/8/1945 – 19/8/2023) VÀ NGÀY QUỐC KHÁNH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM (02/9/1945 – 02/9/2023)

 

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – NHỮNG GIÁ TRỊ TRƯỜNG TỒN

 




 Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một chính thể dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, chấm dứt chế độ phong kiến ở Việt Nam, kết thúc hơn 80 năm ách đô hộ của thực dân, phát xít. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người chủ một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

- Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố với quốc dân và thế giới “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy[1]. Tuyên bố đó đã thể hiện ý chí và khí phách của dân tộc Việt Nam “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đó cũng là lời hịch truyền gửi đến muôn đời con cháu mai sau với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

 


- TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP được Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo ngay giữa lòng Hà Nội, tại số nhà 48 phố Hàng Ngang của nhà tư sản yêu nước Trịnh Văn Bô. Văn kiện quan trọng này được Chủ tịch Hồ Chí Minh trao đổi, lấy ý kiến đóng góp của các đồng chí trong Thường vụ Trung ương Đảng, các thành viên Chính phủ lâm thời, trong quần chúng nhân dân và ý kiến tham khảo của A. Patti - đại diện cho quân Đồng minh.

- TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP có 1.120 từ, được sắp xếp trong 49 câu. Đây là một văn kiện lịch sử, văn bản pháp lý ngắn gọn, chặt chẽ, sắc bén, chứa đựng những nội dung cốt lõi, có cơ sở pháp lý vững chắc, khẳng định chủ quyền quốc gia của một dân tộc và giá trị về quyền con người của người dân một nước độc lập.

- TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP là một tác phẩm đỉnh cao, tiêu biểu, phản ánh đầy đủ nhất, sâu sắc nhất quan điểm triết học, quan điểm chính trị và cả quan điểm nhân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó chứa đựng cả những giá trị của văn minh nhân loại, những “lẽ phải không ai chối cãi được” về quyền con người, quyền dân tộc; thể hiện trí tuệ sắc sảo, tư duy lỗi lạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là kết quả của một quá trình tư duy khoa học, độc đáo và thiên tài của Người.

- Trong phần đầu của bản Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh viện dẫn hai bản Tuyên ngôn của hai quốc gia lớn, văn minh hàng đầu thế giới là bản “Tuyên ngôn Độc lập” năm 1776 của Mỹ và bản “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” năm 1791 của Cách mạng Pháp. “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”[2]; “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi[3].

Với lập luận này, Người đi đến khẳng định: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do[4] và “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được[5]. Từ việc đề cập đến quyền của con người như một sự tất yếu của tạo hóa, không ai có thể xâm phạm được, là quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng trí tuệ mẫn tiệp, bằng sự trải nghiệm thực tế và thực tiễn cách mạng Việt Nam, đã khéo léo phát triển sáng tạo, đưa ra một luận đề không thể bác bỏ về quyền của các dân tộc. Và vì thế, mỗi người dân Việt Nam và dân tộc Việt Nam đều có những quyền chính đáng ấy; không ai có thể tước đoạt được; và nếu bị tước đoạt, cả dân tộc sẽ kiên cường, đoàn kết, kiên trì chiến đấu để giành lại và quyết tâm bảo vệ.

- TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP không chỉ kết tinh các giá trị truyền thống anh hùng, bất khuất, tinh thần và ý chí đấu tranh cho một nước Việt Nam độc lập, tự do mà còn khẳng định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới; đồng thời khích lệ nhân dân các nước thuộc địa, các dân tộc bị áp bức đứng lên chống chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc. Vì thế, TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP không chỉ gắn liền với Hồ Chí Minh mà còn mở ra thời đại Hồ Chí Minh lịch sử gắn liền với hành trình nhân dân Việt Nam kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

- TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP khẳng định rõ vai trò, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do; thể hiện mạnh mẽ ý chí và khát vọng của dân tộc Việt Nam “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

- TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP không chỉ là tuyên ngôn độc lập của dân tộc Việt Nam mà còn là tuyên ngôn về quyền con người, quyền của các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc. Việc nâng tầm quyền con người lên thành quyền dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là một cống hiến về nguyên lý lý luận của Người vào kho tàng tư tưởng nhân quyền của nhân loại.

- Trong TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án đanh thép tội ác của thực dân Pháp “trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa".

"Về chính trị - Chúng tuyệt đối không cho dân ta một chút tự do dân chủ nào... Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu... Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy... Chúng cướp không ruộng đất, rừng mỏ, nguyên liệu... Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng...”[1]

- Lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP về quyền độc lập, tự do tất yếu của dân tộc Việt Nam là đòn phủ đầu vào âm mưu tái chiếm Đông Dương của thực dân Pháp và ý đồ can thiệp của các nước đế quốc đối với Việt Nam, khẳng định trước công luận: Mọi hành vi xâm phạm độc lập, chủ quyền của nước Việt Nam độc lập là đều vi phạm luật pháp quốc tế, đi ngược với xu hướng phát triển của nhân loại tiến bộ. Qua TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định cuộc đấu tranh giành tự do độc lập của dân tộc Việt Nam là chính nghĩa. Một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát-xít, dân tộc đó phải được tự do, độc lập và sẽ bằng mọi giá để giữ vững nền độc lập của mình.

- TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP minh chứng cho một sách lược mềm dẻo, linh hoạt về đối ngoại, tinh thần nhân văn cao cả, tính hòa hiếu của một dân tộc “muốn là bạn với các nước”.

- TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP là cột mốc đánh dấu lịch sử dân tộc Việt Nam đã bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trong bản TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP về quyền con người, quyền dân tộc, khát vọng và tinh thần đấu tranh kiên cường để giữ vững nền độc lập, tự do vẫn trường tồn cùng lịch sử, là ngọn đuốc soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Phòng Lý luận chính trị - Lịch sử Đảng

Ban Tuyên giáo Thành ủy TPHCM

 

Thứ Hai, 21 tháng 8, 2023

KỶ NIỆM 78 NĂM NGÀY CÁCH MẠNG THÁNG TÁM THÀNH CÔNG (19/8/1945 – 19/8/2023) VÀ NGÀY QUỐC KHÁNH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM (02/9/1945 – 02/9/2023)

 

BÀI HỌC DĨ BẤT BIẾN, ỨNG VẠN BIẾN

TỪ QUỐC KHÁNH 2-9

 

Trong tình hình thế giới phức tạp hiện nay, nghệ thuật dĩ bất biến, ứng vạn biến của những ngày Quốc khánh càng cần được phát huy.

Để giành và giữ nền độc lập non trẻ những năm 1945 – 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ứng dụng nhuần nhuyễn nguyên tắc dĩ bất biến, ứng vạn biến. GS – TS Võ Văn Sen, Ủy viên Hội đồng lý luận Trung ương, Chủ tịch Hội khoa học lịch sử TP.HCM đã chia sẻ về giá trị của bài học này cho hôm nay và mai sau:

Dĩ bất biến, ứng vạn biến là vận dụng phép biện chứng vào xử lý các vấn đề. Dĩ bất biến là xác định và đứng trên nguyên tắc. Ứng vạn biến là trên cơ sở nguyên tắc phải có những ứng xử linh hoạt. Trong cuộc cách mạng tháng Tám, điều quan trọng nhất là giành chính quyền. Từ đó xác định đâu là kẻ địch chủ yếu trước mắt. Khi Nhật mới vào Đông Dương năm 1940, liên minh với Pháp thì kẻ địch của Việt Minh là cả phát xít Nhật và thực dân Pháp. Nhưng sau khi Nhật đảo chính Pháp vào 9-3-1945 thì cách mạng tập trung đấu tranh với phát xít Nhật, thậm chí giúp đỡ một số người Pháp bỏ trốn.

Sau cách mạng tháng Tám đến tháng 12-1946, tình hình vô cùng đặc biệt. Đất nước ta phải cùng một lúc chống nhiều kẻ địch: Anh, Pháp, Mỹ, Tưởng Giới Thạch. Tưởng vào phía bắc, đi sau Tưởng là sự ủng hộ của Mỹ. Phía nam là thực dân Pháp và thực dân Anh ủng hộ thực dân Pháp.

Dĩ bất biến là làm sao giữ được độc lập dân tộc. Điều này đòi hỏi phải hết sức quyền biến. Ngày 6-3-1946, chúng ta hòa với Tưởng ở phía bắc, chống Pháp ở phía nam. Trong bối cảnh lực lượng cách mạng còn yếu, nếu cùng lúc chống nhiều kẻ thù thì sẽ thất bại, đây là ứng xử hợp lý. Đáng nói, mặc dù quân Tưởng đang xâm phạm chủ quyền đất nước nhưng chúng ta chấp nhận cung cấp lương thực. Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa chấp nhận đặc cách cho phía Tưởng một số ghế bộ trưởng và 70 ghế trong Quốc hội.

Trước khi sang Pháp để đàm phán năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng đảm đương công việc theo nguyên tắc dĩ bất biến, ứng vạn biến. Người cũng thực hiện nguyên tắc trên khi ở Pháp. Thời điểm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh dĩ bất biến với nguyên tắc độc lập dân tộc, kéo dài thời gian hòa bình để xoay chuyển với tình thế phức tạp. Trước sự căng thẳng trong đàm phán, Người ký Hiệp định sơ bộ Pháp – Việt với nội dung Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa  một quốc gia tự do nằm trong khối liên hiệp Pháp. Đây là một ứng xử linh hoạt. Thoạt nhìn, nội dung này có vẻ nhượng bộ Pháp nhưng về bản chất, Việt Nam vẫn giữ được độc lập, cách nói không quá quan trọng. Tiếp đến là hội nghị đàm phán Pháp-Việt được tổ chức ở lâu đài Fontainebleau và tạm ước Việt - Pháp (14-9-1946). Đây là những bước đi của Bác nhằm kéo dài thời gian hòa bình để Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa chuẩn bị lực lượng, cơ sở kháng chiến.

Ôn cố tri tân, nguyên tắc dĩ bất biến, ứng vạn biến vẫn luôn có giá trị với tình hình hiện nay. Thế giới đang có sự đan xen, chồng chéo về mối quan hệ, đặc biệt giữa các nước lớn. Nổi cộm hiện nay là mâu thuẫn giữa Mỹ - châu Âu và Nga với biểu hiện cụ thể là xung đột tại Ukraine.

Trong tình thế hiện nay, điều bất biến của chúng ta vẫn là lợi ích dân tộc, độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ trên nguyên tắc “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Một biểu hiện cho thấy việc ứng dụng tư tưởng dĩ bất biến, ứng vạn biến trong tình hình hiện nay là chính sách “4 không” đối với quốc phòng: không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Với chính sách này, chúng ta tránh được nguy cơ xung đột với nước khác khi lợi ích quốc gia chưa bị xâm phạm. Nhờ vậy, chúng ta có thể tranh thủ được hòa bình để phát triển kinh tế.

Đối với đất nước ta, vấn đề lớn nhất cần giải quyết bây giờ là phải trở nên giàu mạnh. Sau nhiều nỗ lực, từ một nước nghèo, Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình và đang đứng trước cơ hội rất lớn trở thành giàu mạnh. Muốn thế, chúng ta phải ứng vạn biến trước tình hình thế giới nhiều biến động và dĩ bất biến là giữ cho được hòa bình.

Tình hình trong, ngoài nước đã khác xa thời điểm mới giành độc lập nhưng vẫn tương đồng về bản chất trong nhiều vấn đề. Chúng ta hãy tiếp tục phát huy những gì đã đạt được, kiên định chiến lược ngoại giao, quốc phòng, kinh tế… hiện nay vì đó là nền tảng được dựng xây qua nhiều thế hệ và gặt hái kết quả khả quan.

Chúng ta hãy tiếp tục kiên định với con đường xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Định hướng xã hội chủ nghĩa là một khái niệm rất lớn đòi hỏi vừa có sự kế thừa, tổng hợp thực tiễn, vừa có sự sáng tạo liên tục. Phấn đấu trở thành nước phát triển là mục tiêu theo tiêu chí chung của thế giới. Còn với định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần chú trọng hơn các chính sách an sinh, phúc lợi xã hội, hạn chế những hệ lụy của khoảng cách giàu nghèo, bảo vệ môi trường…

Đây cũng là những cơ sở dĩ bất biến để ứng vạn biến trong mọi tình thế. Dù kinh tế phát triển đến đâu cũng vì mục tiêu hạnh phúc của nhân dân, công bằng xã hội. Dù lợi ích kinh tế lớn thế nào cũng không đánh đổi môi trường, cân bằng sinh thái.

So với các quốc gia có cùng trình độ phát triển, nước ta có những dấu ấn về an sinh xã hội như xóa đói giảm nghèo, phòng chống dịch bệnh… Việt Nam đã có những cam kết mạnh mẽ trước thế giới về bảo vệ môi trường. Những nỗ lực này cần được tiếp tục phát huy khi nước ta từng bước có trình độ phát triển cao hơn nữa.

Khôi Nguyên Thảo (Ghi lại lời của GS.TS Võ Văn Sen)

Box: Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nói đất nước ta có trường phái ngoại giao riêng biệt, đặc sắc và độc đáo, đó là trường phái ngoại giao cây tre. Cây tre Việt Nam có gốc vững chắc, cành uyển chuyển, mềm dẻo nhưng rất kiên cường, không có cơn gió nào quật ngã được. Đây là trường phái ngoại giao thấm từ tâm hồn, cốt cách, khí phách của Việt Nam: mềm mại, khôn khéo nhưng kiên cường; linh hoạt, sáng tạo nhưng kiên định, can trường.

Trường phái ngoại giao này cũng là biểu hiện của tư tưởng dĩ bất biến, ứng vạn biến.  

Thứ Hai, 14 tháng 8, 2023

KỶ NIỆM 78 NĂM NGÀY CÁCH MẠNG THÁNG TÁM THÀNH CÔNG (19/8/1945 – 19/8/2023) VÀ NGÀY QUỐC KHÁNH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM (02/9/1945 – 02/9/2023)


BÁC HỒ VỚI THẮNG LỢI VẺ VANG

CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

 Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong những thắng lợi nổi bật nhất, vĩ đại nhất của Cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Thắng lợi đó gắn liền với sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ thiên tài của Đảng và dân tộc ta.

Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, cứu dân, ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Việt Nam đi đến thành công; với tầm nhìn xa trông rộng, nắm bắt được tình hình thế giới, đánh giá đúng thời cơ cách mạng, Người cùng Trung ương Đảng đã xây dựng lực lượng và lãnh đạo quân, dân cả nước tiến hành thắng lợi Cách mạng tháng Tám, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra trang sử vẻ vang chói lọi nhất cho dân tộc Việt Nam.

Tháng 8/1945, phát xít Đức đầu hàng đồng minh, ở Đông Dương, quân Nhật hoảng loạn, phong trào cách mạng cả nước sôi sục, những điều kiện cho Tổng khởi nghĩa đã chín muồi, Bác Hồ đã khẳng định, lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu cũng phải giành cho được độc lập. Với tư duy chiến lược, nhãn quan chính trị nhạy bén và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nắm chắc thời cơ cách mạng, kịp thời đề ra chủ trương, kế hoạch Tổng khởi nghĩa, kêu gọi sự đoàn kết nhất trí của toàn dân tộc để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Ngày 13/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào quyết định phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước trước khi quân Đồng Minh vào Đông Dương. Ngay đêm hôm đó, Uỷ ban Chỉ huy lâm thời Khu giải phóng đã hạ lệnh khởi nghĩa và phát đi “Quân lệnh số 1” kêu gọi đồng bào cả nước đứng dậy tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 16/8/1945, Đại hội Đại biểu Quốc dân (tức Quốc dân Đại hội Tân Trào) tiến hành họp và phát động Tổng khởi nghĩa vũ trang, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, trong đó điểm đầu tiên là phải “giành chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên nền tảng hoàn toàn độc lập”; Đại hội quyết định Quốc Kỳ nền đỏ, sao vàng; chọn bài Tiến quân ca làm Quốc ca và bầu ra Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Quốc dân Đại hội Tân Trào là một sự kiện đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử Cách mạng Việt Nam, phát động khởi nghĩa giành chính quyền một cách nhanh nhất, khẩn trương nhất, để cả đất nước Việt Nam đứng lên tự làm chủ vận mệnh của mình và đất nước mình. Thành công của Đại hội cho thấy sự sáng tạo độc đáo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc vận dụng và thực thi từng bước tư tưởng dân quyền ngay trong tiến trình đấu tranh giành quyền độc lập dân tộc bằng hình thức tổ chức Quốc dân Đại hội để thông qua quyết sách chuyển xoay vận nước bằng Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945. Theo đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa với lời hiệu triệu: "Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến; toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên".


 Sáng ngày 19/8/1945, theo lời kêu gọi của Việt Minh, cả Hà Nội vùng dậy dưới rừng cờ đỏ sao vàng xuống đường tiến thẳng về trung tâm Nhà hát thành phố để dự mít tinh. Sau loạt súng chào cờ và bài Tiến Quân Ca, đại biểu Ủy ban quân sự Cách mạng đọc lời hiệu triệu của Việt Minh. Cuộc mít tinh trở thành cuộc biểu tình vũ trang tiến vào chiếm Phủ Khâm sai, trại lính bảo an và các cơ sở của Chính phủ bù nhìn.

 


Từ Hà Nội, làn sóng Cách mạng toả đi khắp nơi, cả nước vùng dậy đấu tranh giành chính quyền và liên tiếp giành thắng lợi. Cách mạng tháng Tám là sự kiện vĩ đại trong lịch sự dân tộc, đánh dấu bước tiến nhảy vọt của Cách mạng Việt Nam. Đây là lần đầu tiên giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền trong cả nước, lần đầu tiên chế độ dân chủ nhân dân ở Việt Nam ra đời. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối Cách mạng đúng đắn của Đảng ta: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nhân dân ta đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp, Nhật; lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám đã giành thắng lợi hoàn toàn; Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, trước hàng chục vạn nhân dân, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tuyên bố với toàn thể quốc dân đồng bào và thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người nhấn mạnh: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy!”


Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong những thắng lợi nổi bật nhất, vĩ đại nhất của Cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Thắng lợi đó gắn liền với sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ thiên tài của Đảng và dân tộc ta. Mùa thu Tháng Tám năm 1945 đã đi vào lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam như một mốc son chói lọi, mở ra một trang sử mới, trang sử hào hùng nhất suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Phát huy những giá trị của Cách mạng tháng Tám và sức mạnh đoàn kết của dân tộc Việt Nam, chúng ta tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, nhân dân ta sẽ cùng nhau vượt qua khó khăn, thử thách, chiến thắng dịch COVID-19, cũng như thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đúng tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra.

Trong những ngày mùa Thu lịch sử này, kỷ niệm 76 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, nhân dân Việt Nam lại hướng về Quảng trường Ba Đình lịch sử để bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhớ về Bác muôn vàn kính yêu, chúng ta càng tự hào về những năm tháng hào hùng của mùa Thu năm 1945. Tinh thần Cách mạng Tháng Tám sẽ còn mãi tỏa sáng, là nguồn sức mạnh to lớn của thời đại mới, là động lực và chỉ dẫn quan trọng cho sự nghiệp đổi mới, phát huy ý chí tự lực, tự cường, khơi dậy “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”./.

Khắc Trường

Thứ Hai, 7 tháng 8, 2023

KỶ NIỆM 78 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM (19/8/1945 – 19/8/2023) VÀ 18 NĂM NGÀY HỘI TOÀN DÂN BẢO VỆ AN NINH TỔ QUỐC (19/8/2005 – 19/8/2023)

 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG AN NHÂN DÂN

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài, nhà tư tưởng lỗi lạc, người thầy kính yêu của Đảng và dân tộc ta, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, luôn chăm lo xây dựng, giáo dục và rèn luyện Công an nhân dân trưởng thành, lớn mạnh về mọi mặt.

Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có lực lượng Công an nhân dân tư tưởng và những lời dạy quý báu. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân đã trở thành di sản tinh thần thiêng liêng, là nền tảng lý luận, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của lực lượng Công an nhân dân, góp phần quan trọng làm nên những chiến công to lớn, thành tích xuất sắc trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

Ngay từ khi chính quyền cách mạng mới ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ bản chất cách mạng của Công an nhân dân: “Công an nhân dân hoàn toàn khác Công an đế quốc. Công an đế quốc là nanh vuốt của đế quốc để hà hiếp áp bức đa số nhân dân... Công an nhân dân phải là kiểu mẫu, phải là người chuyên trách thi hành chính sách, phương châm của Đảng, Chính phủ cho tốt. Công an nhân dân phải thực sự phục vụ nhân dân” (1); Người nhấn mạnh: “Mỗi người công an phải là một chiến sĩ... Tôi mong rằng toàn thể Công an sẽ cố gắng thi đua để lập công trong cuộc thắng lợi chung”(2).

Trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, về yêu cầu, nhiệm vụ công tác công an trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Đối với nhân dân, đối với Đảng, với cách mạng xã hội chủ nghĩa, trách nhiệm của công an rất lớn, rất nặng nề”(3); “nhiệm vụ công an thì nhiều, nhưng nói tóm tắt là bảo vệ sự nghiệp xã hội chủ nghĩa... Đó là nhiệm vụ nặng nề, gian khổ đồng thời cũng rất vẻ vang”(4).

Trong Bài nói tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 10, tháng 1 năm 1956, Người nhấn mạnh: “Nhân dân ta có hai lực lượng. Một là quân đội, để đánh giặc ngoại xâm, để bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hòa bình. Một lực lượng nữa là Công an, để chống kẻ địch trong nước, chống bọn phá hoại. Có lúc chiến tranh, có lúc hòa bình. Lúc chiến tranh thì quân đội đánh giặc, lúc hòa bình thì tập luyện. Còn Công an thì phải đánh địch thường xuyên, lúc chiến tranh có việc, lúc hòa bình lại càng nhiều việc”(5).

Về phương pháp, biện pháp công tác, mục tiêu bảo vệ và đối tượng đấu tranh của Công an nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Công an phải:

1. Nhận rõ nhiệm vụ của công an là bảo vệ và phục vụ nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền nhân dân.

2. Để làm tròn nhiệm vụ thì phải luôn luôn đoàn kết nội bộ, nâng cao cảnh giác, chớ chủ quan, khinh địch, tự mãn.

3. Phải nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ.

4. Phải gần gũi nhân dân, dựa vào lực lượng của nhân dân, xa rời nhân dân thì tài tình mấy cũng không làm gì được”(6). Đồng thời, Người dặn dò cán bộ, chiến sĩ công an: “Làm công an không phải làm “quan cách mạng”. Làm công an là để giữ trật tự, an ninh cho nhân dân, xem xét tìm tòi âm mưu phản động làm hại nhân dân”(7); “Bọn phản động không bao giờ muốn cho chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công, công an phải luôn luôn cảnh giác, ngăn ngừa những hành động phá hoại của chúng để bảo vệ lợi ích của nhân dân, bảo vệ sự nghiệp cách mạng”(8).

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, công tác công an phải thấm nhuần sâu sắc và thực hiện nhất quán quan điểm quần chúng của Đảng theo phương châm “lấy dân làm gốc”. Dù kẻ địch có âm mưu thâm độc đến đâu, nhưng nếu chúng ta giữ được lòng dân, dựa vào dân, phát huy sức mạnh của nhân dân, thì địch “ba đầu, sáu tay” cũng bị thất bại.

Trong Bài nói chuyện tại Trường Công an Trung ương trung cấp khóa II, Bác Hồ chỉ rõ: “Công an có bao nhiêu người? Dù có vài ba nghìn hay năm bảy vạn đi nữa thì lực lượng ấy vẫn còn ít lắm bên cạnh lực lượng nhân dân. Năm vạn người thì chỉ có năm vạn cặp mắt, năm vạn đôi bàn tay. Phải làm sao có hàng chục triệu đôi bàn tay, hàng chục triệu cặp mắt và đôi tai mới được. Muốn như vậy, phải dựa vào dân, không được xa rời dân. Nếu không thế thì sẽ thất bại. Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”(9).

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội là sự nghiệp của cả hệ thống chính trị và toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt. Để các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn mỗi cán bộ, chiến sĩ công an phải làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, hiểu được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; đặc biệt phải làm để dân tin, dân phục, dân yêu, phải là những cán bộ dân vận giỏi nhất, cán bộ dân vận tốt nhất.

Trong Bài nói tại Hội nghị Cán bộ Công an, ngày 29 tháng 4 năm 1963, Người nhấn mạnh: “Phải ra sức phát động quần chúng tham gia phong trào bảo vệ trị an, giáo dục quần chúng nâng cao tinh thần làm chủ đất nước, tinh thần cảnh giác đối với kẻ thù của nhân dân, tích cực phòng và chống gián điệp biệt kích. Muốn đạt kết quả đó thì công an phải hết lòng giúp đỡ nhân dân và dựa vào lực lượng hùng mạnh của nhân dân... Làm tốt những việc đó, thì chúng ta nhất định thắng được địch. Đảng và Chính phủ tin vào lòng tuyệt đối trung thành và ý chí kiên cường phấn đấu của các đồng chí. Toàn thể cán bộ và chiến sĩ công an phải cố gắng vượt mọi khó khăn, làm trọn nhiệm vụ nặng nề nhưng rất vẻ vang của công an cách mạng, xứng đáng với lòng tin cậy của nhân dân, của Đảng và Chính phủ”(10).

Trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh, trật tự, đồng thời với sự giúp đỡ của nhân dân, thì sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa lực lượng Công an nhân dân với các cấp, các ngành, nhất là với Quân đội nhân dân, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng có ý nghĩa quyết định.

Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: “Phải đi đúng đường lối quần chúng thì nhân dân mới tin yêu, giúp công an và công an mới thành công được. Phải đoàn kết nội bộ, đoàn kết với nhân dân và với các ngành thì công việc mới thắng lợi”(11); “Các cấp ủy đảng phải thật sự giúp đỡ và lãnh đạo chặt chẽ công an”(12).

Bảo vệ bí mật Nhà nước là một bộ phận quan trọng của cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức và công dân. Trong bài “Phải giữ bí mật của Nhà nước” đăng trên Báo Nhân dân, số 700, ngày 1 tháng 2 năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Những văn kiện bí mật của Nhà nước quan hệ trực tiếp đến vận mệnh của toàn dân, đến sự mất còn của dân tộc. Cho nên giữ bí mật của Nhà nước là nhiệm vụ của toàn dân, đặc biệt là nhiệm vụ của cán bộ các cơ quan, các đoàn thể”(13).

Người nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo vệ bí mật Nhà nước: “Vấn đề này, nhắc đi nhắc lại đã nhiều lần. Nhưng tiếc thay, chứng bệnh không biết giữ bí mật vẫn rất phổ thông, rất trầm trọng. Nhiều cán bộ, nhân viên, binh sĩ, nhân dân còn mắc bệnh ấy. Chúng ta phải luôn nhớ rằng: trong chiến tranh, giữ bí mật hay không là điều rất quan hệ đến sự thắng hay bại. Nếu địch biết tin tức của ta, nó sẽ tìm đánh vào chỗ yếu của ta, thì địch sẽ thắng. Nếu ta thấy rõ tin tức của địch, ta sẽ tìm đánh vào chỗ yếu của nó, thì ta sẽ thắng”(14).

Người chỉ rõ: “Tất cả các cơ quan, bộ đội, tất cả các đoàn thể phải phụ trách thiết thực huấn luyện cho binh sĩ, cán bộ và nhân dân điều lợi, điều hại và cách giữ bí mật. Mỗi người phải coi việc giữ bí mật là một nghĩa vụ của mình đối với Tổ quốc, đối với Chính phủ”(15).

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt, chăm lo xây dựng, rèn luyện lực lượng Công an nhân dân tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, vì nhân dân phục vụ, xứng đáng là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Giữa bộn bề công việc cấp bách của Đảng, Chính phủ khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra gay go, quyết liệt, trong Thư gửi đồng chí Hoàng Mai, Giám đốc Công an Khu XII về “Tư cách người Công an cách mệnh”, ngày 11/3/1948, Người chỉ rõ những phẩm chất đạo đức và tư cách người Công an cách mạng phải có, đó là:

Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính.

Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ.

Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.

Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.

Đối với công việc, phải tận tụy.

Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo.

Nội dung Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân có ý nghĩa sâu sắc, toàn diện đối với quá trình công tác, chiến đấu, tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, chiến sĩ công an. Đó là những phẩm chất không thể thiếu, là nhân tố quyết định để lực lượng Công an hoàn thành xuất sắc yêu cầu, nhiệm vụ được giao: Có lập trường, tư tưởng chính trị vững vàng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; có phẩm chất đạo đức trong sáng; có ý chí cách mạng tiến công, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân.

Trong Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân, Người dành điều đầu tiên để căn dặn cán bộ, chiến sĩ công an: “Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính”, đây là  phẩm chất đạo đức đầu tiên và quan trọng nhất mà mỗi cán bộ, chiến sĩ công an phải có, phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, thì mới có cơ sở để phấn đấu thực hiện những điều Bác Hồ dạy, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Thực hiện lời dạy của Bác chính là nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao sức mạnh chính trị, tư tưởng, năng lực thực thi nhiệm vụ trong mỗi con người nói chung, nhất là đối với cán bộ, chiến sĩ công an nói riêng, tích cực học tập, rèn luyện để trở thành người cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”.

Trong Bài nói tại lớp nghiên cứu khóa I và lớp bổ túc khóa VI Trường Công an Trung ương, ngày 25 tháng 12 năm 1958, Người nhấn mạnh: “Công an đánh địch bên ngoài đã khó, đánh địch bên trong người còn khó hơn. Vì vậy, phải nâng cao kỷ luật, tính tổ chức, chống ba phải, nể nang. Công tác phải đi sâu và thiết thực. Làm việc phải có điều tra, nghiên cứu, không được tự kiêu, tự đại. Phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân thì khuyết điểm mới có thể khắc phục được và ưu điểm mới có thể phát huy được”(16).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân là một chỉnh thể thống nhất, sâu sắc và toàn diện về yêu cầu, nhiệm vụ, đối tượng đấu tranh, phương châm hành động, biện pháp công tác, mục tiêu phấn đấu, cống hiến, tu dưỡng, rèn luyện, chuẩn mực đạo đức, lối sống của cán bộ, chiến sĩ công an, đến nay vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.

Học tập và thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân đã trở thành phong trào thi đua rộng lớn, liên tục trong Công an nhân dân suốt 70 năm qua, luôn là nội dung trọng tâm công tác xây dựng Đảng, công tác chính trị, tư tưởng của lực lượng Công an nhân dân trong các giai đoạn cách mạng trước đây, cũng như trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế ngày nay.

Thực tiễn công tác công an đã chỉ ra rằng, ở đâu, khi nào, cán bộ, chiến sĩ công an quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc những lời dạy của Bác Hồ, thì ở đó, khi đó, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân được giữ vững, công an được nhân dân tin yêu, cấp ủy, chính quyền tin cậy, các cấp, các ngành đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ.

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, can thiệp lật đổ ở nước ta với quy mô ngày càng mở rộng, cường độ ngày càng quyết liệt, tính chất ngày càng nguy hiểm, thâm độc, tinh vi, xảo quyệt. Tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp, có mặt nghiêm trọng hơn, gây bức xúc trong nhân dân. Trong bối cảnh đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân vẫn mang tính thời sự, còn nguyên vẹn giá trị và là bài học quý báu đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, nhất là đối với lực lượng Công an nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng chỉ đạo, ra sức học tập, làm theo lời dạy của Bác Hồ, hơn lúc nào hết, lực lượng Công an nhân dân nguyện tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng vẻ vang; nêu cao tinh thần đoàn kết, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, hun đúc bản lĩnh chính trị vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách; trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, chấp hành nghiêm kỷ luật, tận tụy với công việc, nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân; phối hợp chặt chẽ với Quân đội nhân dân, với các bộ, ban, ngành, địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội và dựa vào nhân dân, xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm vững chắc an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và mở rộng đối ngoại của đất nước để mãi mãi xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân./.

1. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 365.

2. Sđd, tr. 10.

3. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.31.

4. Sđd, tr.447.

5. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.118.

6. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 119.

7. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.365.

8. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.447.

9. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.366. 10. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 55.

11. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 280.

12. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 55.

13. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 121.

14. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 57.

15. Sđd, tr. 58, 59.

16. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 280.

Đại tướng Trần Đại Quang - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an

Theo http://cand.com.vn

KỶ NIỆM 94 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN (26/3/1931 – 26/3/2025)

  Nhớ những lời dạy của Bác Hồ dành cho thanh niên Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại luôn dành những...