Thứ Hai, 16 tháng 1, 2023

MAI VÀNG MANG ĐẾN TIN XUÂN

          Mang vẻ đẹp của sự thanh thoát, bình dị, nhưng ẩn chứa những nét kiêu sa, quý phái, lại có sức sống mãnh liệt, vượt mọi gió sương băng hàn của mùa đông khắc nghiệt, để đâm chồi nảy lộc, báo hiệu mùa Xuân về _ hình ảnh hoa mai từ ngàn xưa đã được cổ nhân lưu dấu trên các loại hình nghệ thuật từ những áng văn thơ tuyệt tác đến những tác phẩm hội họa đầy màu sắc và đặc biệt nhất là để lại ấn tượng khó phai trên các dòng gốm sứ cổ kim, để vẻ đẹp của hoa mai ấy luôn được trường tồn với thời gian.

Nhất sinh đê thủ bái mai hoa

Ở phương Nam cứ mỗi mùa mai nở là lúc tiết trời vào Xuân, thế nên mai được gọi là hoa báo Xuân mai. Cũng thật hữu ý khi trong phương ngữ Nam bộ từ “mai” còn đồng âm với từ “may mắn”. Năm cánh mai nở được ví như là biểu tượng của 5 điều may mắn, cát tường (ngũ phúc lâm môn): phúc, lộc, thọ, khương, ninh. Thú chơi mai ngày Tết do vậy đã trở thành điểm nhấn đẹp của cư dân phương Nam mỗi độ xuân về.

Trong thú chơi cây cảnh, mai là loại cây quý được người xưa rất ưa chuộng và trân trọng. Mai được xếp vào loại “tứ quý” hay “tứ quân tử”: Nếu xếp theo “tứ thời” thì mai ứng vào mùa đông, tượng trưng cho khí phách “xung hàn” – chịu đựng rét mướt qua suốt mùa đông lạnh lẽo nhưng vẫn đâm chồi nảy lộc để bừng nở vào mùa Xuân. Còn nếu xếp theo “tứ quý” thì mai thể hiện vẻ hồn nhiên, lan thì thanh thoát, cúc thì nhàn nhã và trúc thì cứng rắn. Nằm trong “tứ quân tử” (mai, lan, cúc, trúc hay tùng, cúc, trúc, mai), hoa mai là loài hoa đại diện cho những phẩm chất, khí tiết hơn người của bậc đại trượng phu. Không chỉ vậy, mai còn là biểu tượng của sự thuần khiết, thanh cao, vươn mình lên khoe sắc giữa nghịch cảnh nhưng lại không quá phô trương. Đất trời hẳn là hữu ý, nên mỗi nhành cây, nụ hoa đều có nhắn gửi đạo lý cho con người. Chỉ đợi người nán lại, nhìn mà cảm nhận để rồi vỡ òa trong sự giác ngộ mà thôi: “Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
/Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”
(Mười năm chu du tìm gươm báu 
Một đời chỉ cúi lạy hoa mai)
. Hai câu thơ bất hủ về hoa mai này được người đời gán cho là của Chu Thần Cao Bá Quát. Bởi nó quá phù hợp với hình ảnh người quân tử khí phách, cốt cách thanh cao của ông. Không rõ nguồn gốc thật sự của những câu thơ này là từ đâu, thế nhưng nó đã trở thành một “tuyên ngôn” kính ngưỡng đối với triết lý nhân sinh mà trời đất đã gửi gắm vào trong loài hoa khiêm nhường này.

Trước những cao nhân mặc khách, hoa mai không chỉ là một biểu tượng tuyệt đẹp của khí chất quân tử, mà còn là người bạn tâm giao, là bậc thầy gửi gắm triết lý nhân sinh cho bậc tu hành ngộ đạo bàng bạc trong những áng thơ ca. Cành mai trong thơ, chính là chất liệu của nhân thế, là hơi thở, là tiếng lòng của các nhà thơ miêu tả cái vui mà các nhà thơ cảm nhận bằng hình ảnh cành mai mùa Xuân. Có lẽ, nụ mai nở sớm nhất trong thơ ca Việt Nam lại là đóa hoa nở …muộn. Ấy là cành mai cuối Xuân của thiền sư Mãn Giác (1051 – 1096) được chép trong “Thiền uyển tập anh”. “…Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận/ Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” (Chớ bảo Xuân tàn hoa rụng hết/Đêm qua, sân trước, một nhành mai). Chẳng biết cành mai của Vị Thiền sư có hoa hay không. Nhưng dù không phô bày, hoa luôn sẳn có và sẽ nảy ra khi đủ cơ duyên thuận hợp, chỉ trừ trường hợp, cây cành nơi trú của hoa, bị héo khô lìa gãy. Mà cây cành khô gãy cũng chẳng hề chi, bởi mầm hoa bàng bạc khắp nơi, chỗ nào cũng trú mà chẳng trú nơi nào, sẽ nảy sinh vô vàn cây khác. Rõ ràng, Xuân tàn, hoa rụng, thân tàn, đêm tối không phải là dấu hiệu chấm dứt sự sống tốt tươi đẹp đẽ, mà lúc để thiên nhiên con người ngơi nghỉ, ngừng đà vọng đọng hướng ra bên ngoài và thu liễm sinh lực vào bên trong hàm dưỡng. Giống như khi các giác quan không còn bị những sắc hương hiển hiện kích thích, tâm dễ lắng trong, từ đó lộ ra cảnh an vui vốn có. Một thiền sư khác sống sau đó hơn 2 thế kỷ có pháp hiệu Huyền Quang (1254 – 1334), là vị tổ thứ 3 của phái Trúc Lâm Yên Tử, từng tôn mai lên ngôi vị ngự sử đài – chức quan trọng giữ trọng trách giám sát và can gián vua chúa: “Ngự sử mai hai hàng chầu rắp/ Trượng phu tùng mấy chặng phò quanh”. Ngự sử mai, trượng phu tùng và quân tử trúc hợp thành “tam ích hữu” (3 người bạn có ích). Khái niệm này xuất phát từ thiên “Quý thị” trong sách Luận ngữ: Ích giả tam hữu: hữu trực, hữu lượng, hữu đa văn (3 bạn có ích gồm 3 hạng: ngay thẳng, rộng lượng và hiểu biết rộng) và được hình tượng hóa thành bộ 3: tùng, trúc, mai là “Đông thiên tam hữu” hay “tuế hàn tam hữu”. Các thi nhân xưa đều lấy mai làm nguồn thi hứng. Vua Lê Thánh Tông có bài “Mai thụ” tức cây mai; Nguyễn Trãi có bài “Lão mai” tức mai già. . Người biết yêu mai sẽ cảm nhận cái đẹp của mai. “Mai trắng tinh khiết thanh tao. Mai vàng nhớ nhung xao xuyến”. Mai đẹp ở sắc, đẹp cả cành. Hương mai kín đáo nhẹ nhàng; do đó, nhà thơ Nguyễn Du có câu: Mai cốt cách tuyết tinh thần / Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.


Mai nở không tàn trên gốm xưa

Trong văn hóa phương Đông hình ảnh hoa mai không chỉ đẹp trong áng thơ, văn cổ mà còn được dùng làm đề tài trang trí rất đa dạng, phong phú trên tranh ảnh và đồ gốm sứ, khiến hoa mai nở trên gốm xưa trở thành vật phẩm rất đỗi quen thuộc hầu hết của nhà sưu tập yêu thích, như những tích: mai điểu, mai cài thọ, tùng trúc mai, mai lan cúc trúc, mai hạc, đạp tuyết tầm mai,.. Ngày nay các hình ảnh ấy đều có thể gặp lại trên các đồ sứ kiểu được vua quan và người quyền quý được triều Nguyễn đặt làm tại Trung Hoa ở thế kỷ 19, hoặc các dòng gốm Việt cổ như: Bát Tràng (Hà Nội), Châu Ổ (Quảng Ngãi), Gò Sành (Bình Định), Cây Mai (Sài Gòn), Lái Thiêu (Bình Dương), Biên Hòa (Đồng Nai),.. Theo đó, nhành mai nổi tiếng trong đồ ký kiểu thời nhà Nguyễn có lẽ là chiếc đĩa trà vẽ đề tài mai hạc, gắn liền với tích truyện quan chánh sứ phẩm của An Nam là đại thi hào Nguyễn Du của năm ấy đi sứ sang Trung Hoa, trong lúc đến thăm lò sứ Ngoạn Ngọc ở Giang Tây, vị chủ lò đã thỉnh cầu Nguyễn Du đề từ cho bộ chén đĩa mai – hạc đang sản xuất. Tác giả của Kiều với “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” đã viết nên câu đối thơ bằng chữ nôm rằng: “Ngêu ngao vui thú yên hà, mai là bạn cũ, hạc là người quen”. Nhành mai vẽ đơn sơ mọc lên cạnh phiến đá lớn, trên đó là chú chim hạc đứng một chân đã trở nên quen thuộc trong giới sưu tập cổ ngoạn. Hay Đặng Huy Trứ (1825 – 1874) một vị quan dưới thời Tự Đức – cũng đã từng đặt đồ sứ ký kiểu để đem về sử dụng mục đích thờ tự, trong số ấy có đĩa trà vẽ tích “đạp tuyết tầm mai”. Hình ảnh này nhắc điển tích Mạnh Hạo Nhiên, nhà thơ thời Thịnh Đường bên Trung Quốc đã cưỡi lừa xông pha sương tuyết đi tìm hoa mai. Các hình ảnh về mai còn thấy trong tích “tuế hàn tam hữu” (ba bạn hữu trong gió rét) mang nét biểu trưng cho Chân – Thiện – Mỹ. Cùng là đề tài mai nở, tương đồng với các đồ sứ ký kiểu, các nghệ nhân gốm cổ Bát Tràng ở thế kỷ 18 – 19 cũng thực hiện các tác phẩm gốm trên đó trang trí hoa mai ... hoặc một nhành mai đứng độc lập, mai cài chữ thọ. Dọc theo “phả hệ” gốm Việt từ phía Bắc trải dài đến phương Nam, hoa mai còn xuất hiện rất nhiều trong các đồ án trang trí, tiêu biểu là hệ thống tiểu tượng trên mái nóc chùa Hoa vùng Chợ Lớn do các lò gốm Đông Hòa, Mai Sơn, Bửu Nguyên tác tạo. Nhưng đề tài hoa mai nở rộ phải kể đến gốm Biên Hòa, một dòng gốm trẻ, sinh sau đẻ muộn nhưng đã từng tạo nên những dấu ấn gây chú ý đặc biệt từ những cuộc triển lãm lớn, giành nhiều huy chương vàng và bằng danh dự ở Paris, New York và các quốc gia lân cận như Thái Lan, Philippin, Nhật Bản, Indonesia, Campuchia suốt từ thập niên 20 đến 50 của thế kỷ 20. Và một trong những dãi đề tài trang trí quen thuộc của gốm Biên Hòa là lối khắc chìm tô men các nhành mai 5 cánh đang đua chen nở. Những bông mai được thể hiện không bằng lối vẽ quen thuộc trên đồ sứ hay cắt dán, đắp nổi như gốm Bát Tràng, gốm Cây Mai mà được khắc chìm và tô men, với lối phối màu rất hiện đại, tạo nên các hiệu ứng hình ảnh đặc biệt, gần gũi quen thuộc cả với văn hóa Á – Âu. Cũng như các thi nhân, mỗi nghệ nhân tạo tác hoa mai theo từng khía cạnh khác nhau tùy theo quan điểm của mình nhưng tựu trung vẫn là ca ngợi nét đẹp thuần túy, thanh bạch, tinh khiết của hoa mai.

Nhân dịp Xuân về, bên tách trà, chung rượu, tĩnh lặng ngắm nhìn những bông hoa rực rỡ được đặt vào những bình gốm xưa với hình ảnh mai vàng khoe sắc thắm, thưởng ngoạn những điển tích cổ kim về truyện tích hoa mai, cũng là dịp khám phá những câu chuyện dài về văn hóa, lịch sử, mỹ thuật, kỹ thuật, niên đại... và điều hấp dẫn rằng, những nhành mai nở ấy mang nét đẹp vĩnh cửu, không tàn úa, vẻ đẹp vượt mãi cùng thời gian. Hoa mai nở rộ là biểu hiện của điềm tốt lành cho năm mới, tượng trưng cho sự đầy đủ, trọn vẹn của cuộc sống. Đó cũng là lời chúc tốt lành nhất dành cho những nhà sưu tập cổ ngoạn với những đồ án, hoa văn trang trí hình hoa mai và cùng là lời ước vọng đầu Xuân cho tất cả mọi người đang đón chào năm mới.

Hiếu Nguyễn

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2023

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI HỌC SINH, SINH VIÊN VIỆT NAM

 Với bất kì quốc gia nào trên thế giới, thanh niên, học sinh, sinh viên chính là tương lai của đất nước, là lực lượng nòng cốt để xây dựng đất nước giàu mạnh, phát triển. Chính vì thế mà lúc sinh thời, Bác Hồ hết sức quan tâm tới lực lượng “rường cột” này của nước nhà.




Khoảng tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi các em học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Bác đã khẳng định: Nước nhà trông mong, chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có thể trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Trong suốt sự nghiệp hoạt động cách mạng của mình, Người luôn quan tâm sâu sắc tới công tác giáo dục thế hệ trẻ, tư tưởng, lý luận và tình cảm của Người đã để lại những bài học thực tiễn còn nguyên giá trị cho tới tận ngày nay và mãi về sau. Người không chỉ nêu lên vai trò hết sức quan trọng của học sinh, sinh viên mà còn nhấn mạnh trọng trách khó khăn nhưng vinh quang của các em, đó là bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Để làm được điều đó, các thế hệ học sinh, sinh viên Việt Nam cần cố gắng, ra sức học tập, rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức sống; học để biết, học để làm, học để trở thành những chiến sĩ tiên phong trên còn đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 Có thể nói, công tác giáo dục thế hệ trẻ ngay từ bậc mầm non, tiểu học có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành, rèn luyện đạo đức và nhân cách con người đồng thời cung cấp kiến thức, kỹ năng để trẻ có nền tảng phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Giáo dục nhi đồng là một khoa học”, dạy dỗ trẻ nhỏ không thể theo cảm tính của người lớn, càng không phải là “cách thức giáo dục” giống như những hiện tượng xã hội mà báo đài, dư luận rầm rộ đưa tin: Thầy cô đánh chửi học trò, giáo viên ngược đãi trẻ mầm non, học sinh tiểu học còng lưng vì vác cặp sách quá nặng, rồi nạn dạy thêm, học thêm tràn lan dẫn tới quá tải, vô tình đánh mất đi tuổi thơ của các em…Không phải tất cả những gì mà người lớn chúng ta cho là đúng, là tốt thì đều đúng và tốt cho trẻ em. Chính vì thế, cần có những nghiên cứu khoa học nghiêm túc và kĩ lưỡng trong công tác giáo dục lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng cả về tâm sinh lý cũng như ảnh hưởng của môi trường sống xung quanh tác động đến trẻ nhỏ để tìm ra phương pháp dạy dỗ khoa học, hợp lý. Về vấn đề này, Bác đã nêu lên một luận điểm mang tính cốt lõi, đó là cách dạy trẻ phải “giữ toàn vẹn cái tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng hóa ra những người già sớm”. Bác thường nhắc nhở: “chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn”. Tư tưởng tiến bộ đó của Người đã cho chúng ta nhận thấy giá trị quan trọng của công tác giáo dục nhi đồng nói riêng và sự nghiệp giáo dục nói chung - sự nghiệp đó phải thực sự khoa học và nghiêm cách. Đây chính là kim chỉ nam hành động để các nhà giáo dục làm tốt hơn công tác giáo dục nhi đồng hiện tại và tương lai.

 Đối với việc chăm lo đào tạo, giáo dục và bồi dưỡng thanh niên, trong đó có lớp thanh niên trí thức - những thanh niên, sinh viên đang được đào tạo từ các trường đại học, cao đẳng được Bác dành sự quan tâm đặc biệt. Ở lứa tuổi thanh niên, sinh viên, việc giáo dục đào tạo không phải là “cầm tay chỉ việc”, uốn nắn từng chút một, mà quan trọng là phải truyền được cho các em tinh thần tự học, tự khám phá, chủ động, sáng tạo, giúp các em định hướng được mục đích của việc tự học tập, tự xác định được con đường phấn đấu cho tương lai. Chỉ như vậy các em mới có thể kiên trì trên con đường học tập theo phương châm “học, học nữa, học mãi” của lãnh tụ Lê-nin vĩ đại.

Bác yêu cầu sinh viên: “Phải hiểu rõ học thế nào? Học cái gì? Học để làm gì?”. Tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II, ngày 7.5.1958, Bác nhấn mạnh: “Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt hai câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát thì mới có phương hướng”. Bác chỉ rõ: “Dưới chế độ thực dân, phong kiến, mục đích đi học là cốt được mảnh bằng để làm ông thông, ông phán, lĩnh lương nhiều, ăn ngon, mặc đẹp. Thế thôi. Số phận dân tộc thế nào, tình hình thế giới biến đổi thế nào, không hay, không biết gì hết. Mục đích giáo dục nô lệ hầu hạ chúng. Ngày nay ta đã được độc lập, tự do, thanh niên mới thật là người chủ tương lai của nước nhà. Muốn xứng đáng vai trò là người chủ thì phải học tập. Học bây giờ với học dưới chế độ thực dân, phong kiến khác nhau”, “Học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và quân sự” và “Học để phụng sự ai? Để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh, tức là để làm tròn nhiệm vụ người chủ của nước nhà”. Từ đó có thể thấy, nhiệm vụ của thanh niên trí thức thời đại mới không chỉ là ra sức học tập để làm chủ được tri thức, công nghệ mới, mà còn phải xác lập được cho mình lý tưởng cộng sản đúng đắn. Lý tưởng đúng đắn chính là cứu cánh, là vũ khí sắc bén trong đấu tranh chống lại cái xấu, chống lại những cám dỗ bên ngoài, giúp thanh niên vượt lên trên hoàn cảnh khó khăn để hoàn thành mục tiêu.

  Đặc biệt trong xã hội hiện tại, khi mà các giá trị tinh thần cũ và mới đan xen, một bộ phận không nhỏ thanh niên, sinh viên có lối sống buông thả, vị kỉ, cá nhân, thờ ơ, vô cảm với thời cuộc, chìm đắm trong các trò chơi điện tử, trong cuộc sống ảo trên mạng, vùi mình trong các cuộc ăn chơi, đua đòi… thì những lời dạy của Bác càng có giá trị lớn lao hơn bao giờ hết. Nhưng làm thế nào để những lời dạy quý báu đó của Người thấm nhuần tới được với học sinh, sinh viên, giúp các em hình thành được lý tưởng và nếp sống đúng đắn? Trách nhiệm đó không chỉ của riêng ai, mà là trách nhiệm của toàn xã hội, trước hết là của các bậc làm cha làm mẹ, của các nhà giáo dục, các nhà quản lý trong lĩnh vực có liên quan tới thanh thiếu niên.

 Trong vấn đề học tập, Bác không chỉ nhắc nhở học sinh, sinh viên mà là thanh niên Việt Nam nói chung, Bác đã chỉ ra: “Làm nghề gì cũng phải học” và mục đích của việc học là để “nâng cao năng lực làm cho kinh tế phát triển, chiến đấu thắng lợi, đời sống nhân dân càng no ấm, vui tươi”. Điều đó có nghĩa rằng ngay cả đối với một bộ phận thanh niên không theo học đại học, cao đẳng, thì việc học cũng luôn là việc hết sức quan trọng. Học từ các lớp dạy nghề, học từ kinh nghiệm cuộc sống, từ người đi trước, tự học… để nâng cao lối sống tích cực, trau dồi kĩ năng nghề nghiệp để ứng dụng được kiến thức vào lao động sản xuất và làm ăn kinh tế nhằm làm giàu cho bản thân cũng như xã hội.

  Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn lưu ý học sinh, sinh viên rằng, để việc học tập thành công và trở nên hữu ích thì học phải đi đôi với hành, lý thuyết phải đi cùng thực tiễn. Bác nói: “Chỉ biết lý luận (lý thuyết) mà không biết thực hành thì cũng là trí thức có một nửa. Vì vậy cho nên các cháu trong lúc học về lý luận thì cũng phải kết hợp với thực hành”, “lý luận phải gắn liền với thực tế”. Đồng thời Bác nhắc nhở các nhà trường “không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu…”….Bác nhấn mạnh thêm: “Cần có lao động, lao động trí óc và lao động chân tay. Và cần lao động trí óc kiêm lao động chân tay, nghĩa là lao động chân tay cũng phải có văn hoá, mà người lao động trí óc cũng phải làm được lao động chân tay. Nếu lao động trí óc không làm được lao động chân tay và lao động chân tay không có trí óc thì đó là người lao động bán thân bất toại…”. Điều đó có nghĩa rằng học sinh, sinh viên không chỉ học kiến thức sách vở, mà còn phải được thường xuyên nâng cao năng lực thực hành, biết dùng đôi bàn tay để trực tiếp ứng dụng được những kiến thức tiếp thu được. Để đạt được mục tiêu này, vai trò rất lớn thuộc về nhà trường và các cấp quản lý giáo dục, cần phải tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên được làm thực hành, thí nghiệm nhiều hơn, thường xuyên tổ chức cho các em tham quan, thực tập trong các nhà máy, xí nghiệp sản xuất; kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp nhằm tạo ra nguồn cung lao động có số lượng và chất lượng phù hợp với nguồn cầu của thực tế sản xuất. Với những phân tích trên, chúng ta có thể thấy, tư tưởng và những lời căn dặn của Bác vẫn còn nguyên tính thời sự, giá trị lý luận và bài học thực tiễn sâu sắc, đó là bài học về việc phương pháp đào tạo dạy và học thực chất, sáng tạo, nói không với bệnh thành tích, học phải đi đôi với thực hành, kiến thức phải đi đôi với kỹ năng.

 Ngoài việc học tập, trau dồi kiến thức, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn căn dặn thế hệ trẻ phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất, đạo đức, lối sống. Bác nhấn mạnh: “Có tài mà không có đức là người vô dụng”. “Đức”, ở đây như Bác nói là đạo đức, đạo lý làm người mà với thời đại chúng ta, Bác yêu cầu rèn luyện để có đạo đức cách mạng. Bác giải thích đạo đức cách mạng rất giản dị, cụ thể: “Đạo đức cách mạng không phải là những điều cao siêu, xa lạ mà đối với mỗi người bất kỳ ở cương vị nào, bất kỳ làm một việc gì đều không sợ khó, không sợ khổ, đều một lòng một dạ phục vụ lợi ích chung của giai cấp, của nhân dân, đều nhằm mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội”, “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời rơi xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Bác coi “đạo đức là cái gốc của người cách mạng” và Bác nêu lên cách thức phấn đấu, rèn luyện đạo đức cách mạng: “Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, tức là học tập, lao động, sinh hoạt theo đúng đạo đức của thanh niên xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa”, “Để làm tròn trách nhiệm, thanh niên ta phải nâng cao tinh thần làm chủ tập thể, trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân, chớ phô trương hình thức, chớ kiêu ngạo tự mãn”.

 Để loại bỏ chủ nghĩa các nhân, Bác chỉ rõ: “Muốn sửa chữa chủ nghĩa cá nhân thì phải làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, mà phải nghĩ đến đồng bào, đến toàn dân đã. Ta có câu nói: “khó nhọc thì mình nên đi trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”; làm việc gì mình cũng nghĩ đến lợi ích chung trước và lợi ích riêng sau. Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt lại câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát thì mới có phương hướng sửa chữa khuyết điểm của mình”.

 Từ lúc sinh thời và cho đến khi Bác về với “thế giới người hiền”, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho các thế hệ trẻ Việt Nam tình yêu thương bao la, sâu sắc nhất. Người đã khẳng định: Thanh niên là chủ nhân tương lai của nước nhà...Chính vì thế, việc chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ luôn là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của toàn xã hội, “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có những con người xã hội chủ nghĩa, tức là phải có những người có đạo đức xã hội chủ nghĩa”. Nhớ lời dạy của Bác kính yêu, mỗi thế hệ học sinh, sinh viên Việt Nam “cần phải có chí tự động, tự cường, tự lập; Phải có khí khái ham làm việc, chứ không ham địa vị; Phải có quyết tâm, đã làm việc gì thì làm cho đến nơi đến chốn, làm cho kỳ được; Phải có lòng ham tiến bộ, ham học hỏi, học luôn, học mãi. Học văn hoá, học chính trị, học nghề nghiệp..”; những nhà quản lý giáo dục, những thầy cô giáo - là những người có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp trồng người, hãy luôn khắc ghi những lời Bác căn dặn, coi đó là kim chỉ nam định hướng cho triết lý giáo dục hiện đại nhằm tìm ra giải pháp đưa nền giáo dục nước nhà phát triển tích cực và bền vững, góp sức vào công cuộc CNH-HĐH đất nước, xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

 

Huyền Trang (tổng hợp)

Thứ Tư, 4 tháng 1, 2023

BÁC HỒ VỚI TẾT MẬU THÂN 1968

 


Suốt 2 tháng đầu năm Mậu Thân 1968, trên toàn chiến trường miền Nam không lúc nào ngớt tiếng súng. Mục tiêu lớn của chiến dịch đã đạt được, ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, phá vỡ một mảng lớn hệ thống chính quyền của chúng, làm giảm ý chí chiến tranh của những kẻ hiếu chiến trong giới lãnh đạo Mỹ.

Giữa năm 1967, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta xuất hiện tình thế mới, có lợi cho ta. Ngày 28-12-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Bộ Chính trị (Khóa III) họp quyết định một chủ trương hết sức quan trọng: Mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân 1968 nhằm giáng đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Ngay sau đó, công tác chuẩn bị được tiến hành chu đáo, công phu, tỉ mỉ và hoàn toàn bí mật. Tháng 1-1968, Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (Khóa III) thông qua Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12-1967, khẳng định quyết tâm, mục tiêu và hướng tiến công chiến lược. Ở miền Nam, các binh đoàn chủ lực, theo kế hoạch đang bí mật áp sát vào bàn đạp tiến công. Chỉ thị cụ thể của Bác Hồ cho các chiến trường là:

 

Kế hoạch phải thật tỉ mỉ

Hợp đồng phải thật ăn khớp

Bí mật phải thật tuyệt đối

Hành động phải thật kiên quyết

Cán bộ phải thật gương mẫu.

 

Theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ - Thư ký riêng của Bác thì Người đã chuẩn bị thư chúc Tết Mậu Thân 1968 từ độ ba tháng trước đó. Sáng chủ nhật ngày 31-12-1967, Bác ra Phủ Chủ tịch để đọc ghi âm thư chúc Tết. Chị Trần Thị Tuyết ngâm bài thơ chúc Tết vừa để Bác nghe vừa để ghi âm phát lúc giao thừa. Sáng ngày 1-1-1968, Bác gửi Thư Chúc mừng năm mới tới toàn thể cán bộ và đảng viên cả nước. Trong thư, Bác gửi lời chúc mừng đến các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các nước bầu bạn và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đã nhiệt liệt ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta; chúc kiều bào ta ở nước ngoài, năm mới cố gắng mới, tiến bộ mới! Đối với đồng bào và chiến sĩ cả nước, Bác chúc:

 

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,

Thắng trận tin vui khắp nước nhà.

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.

Tiến lên!

Toàn thắng ắt về ta!

 

Cũng theo đồng chí Vũ Kỳ, chiều 29 Tết, Bác Hồ nhận điện của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng chúc tết Bác. Tối đêm giao thừa nơi Bắc Kinh xa xôi, hai Bác cháu ngồi im lặng trong phòng, mở Đài Tiếng nói Việt Nam nghe tin tức, ca nhạc và ngâm thơ Tết, chờ đón giao thừa. Từ khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng (năm 1941), đây là lần đầu tiên Bác đón giao thừa ở nước ngoài. Thời gian trôi đi chầm chậm. Rồi, bên ngoài, tiếng pháo nổ vang, tiễn Đinh Mùi và đón mừng Mậu Thân, từ chiếc đài bán dẫn, tiếng nói của Bác Hồ vang lên:

 

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,

Thắng trận tin vui khắp nước nhà.

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.

Tiến lên!

Toàn thắng ắt về ta!

 

Lời thơ chúc Tết của Bác đồng thời cũng là hiệu lệnh mở đầu cuộc tiến công và nổi dậy và truyền đi khắp mọi miền đất nước mà trọng điểm là 3 thành phố lớn: Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế. Tại Sài Gòn, quân ta đã đánh thẳng vào Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ Mỹ, Bộ Tổng tham mưu, Đài Phát thanh và rất nhiều mục tiêu chiến lược của địch khác…. Khi đài phát xong câu cuối “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”, Bác nói khẽ: “Giờ này, miền Nam đang nổ súng!”.

 

Trưa mồng một Tết, Bác Hồ rất vui khi nhận được tin chiến thắng : “Đánh khắp miền!”. Mồng 6 Tết, nhằm ngày 3-2-1968, kỷ niệm 38 năm Ngày thành lập Đảng, mới 6 giờ sáng, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ chuẩn bị giấy bút. Bác ngồi cạnh cửa sổ, nhìn ra ngoài trời đầy tuyết trắng, đọc cho đồng chí Vũ Kỳ ghi bài thơ khai bút đầu năm:

 

Đã lâu chưa làm bài thơ nào

Nay lại thử làm xem sao

Lục khắp giấy tờ vần chẳng thấy

Bỗng nghe vần THẮNG vút lên cao!

 

Suốt 2 tháng đầu năm Mậu Thân 1968, trên toàn chiến trường miền Nam không lúc nào ngớt tiếng súng. Mục tiêu lớn của chiến dịch đã đạt được, ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, phá vỡ một mảng lớn hệ thống chính quyền của chúng, làm giảm ý chí chiến tranh của những kẻ hiếu chiến trong giới lãnh đạo Mỹ. Vần “THẮNG” của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom và đánh phá miền Bắc, thừa nhận chính thức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, ngồi vào bàn đàm phán tại Paris để giải quyết chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 là tiền đề quan trọng cho thắng lợi hoàn toàn mùa Xuân năm 1975.

Theo qdnd.vn

Thứ Hai, 26 tháng 12, 2022

Ô KÌA, MỘT THOÁNG TIM MỀM



Những tờ lịch mỏng cuối năm xé trong một thoáng tần ngần, một thoáng tim mềm đi khi năm mới đang kề trước mắt. Một năm bắt đầu bằng tháng Giêng, bằng những non tơ đến ngỡ ngàng của chồi non, lộc biếc, bằng những dịu êm của nắng mai, những vương vít của cánh bướm cánh ong tìm hoa, những trái tim thoáng thấy lòng rộng mở khi hát khúc yêu thương và khát vọng.

Là Tháng Giêng đấy, nhắc ta nhớ quê cha với những nẻo đường quê đang chờ bước chân ta về. Sáng nay nhận tiền thưởng tết Dương lịch, mở Đen Vâu nghe hát “Đi về nhà”. “Đường về nhà là vào tim ta/ Dẫu nắng mưa gần xa/ Thất bát, vang danh/ Nhà vẫn luôn chờ ta/ Đường về nhà là vào tim ta/ Dẫu có muôn trùng qua/ Vật đổi sao dời/ Nhà vẫn luôn là nhà”. Và cũng sáng nay gặp một vài người bạn, thật tình cờ, trong mọi câu chuyện đều hỏi nhau rằng, năm nay ăn Tết quê hay thành phố, đã mua vé tàu, xe, máy bay gì về quê chưa? Đơn giản vậy thôi mà thấy nắng sáng nay đẹp, gió sáng nay sao mà hiền quá thể.

Những nẻo đường quê Tháng Giêng chợt thức dậy trong lòng với lừng thơm hương bưởi hương cau vấn vít với mùi trầm thắp lên bàn thờ tiên tổ. Hái nhành hoa bưởi thanh tao đặt lên đĩa cúng ông bà, nghe mùi hương dịu dàng ấy lẫn trong làn hương trầm, đánh thức cả một miền tâm thức. Thấy mình xao xuyến yêu thương cả những làn hương rất dịu mà những tháng ngày khác trong năm bận bịu quá chẳng mấy khi nghĩ tới, nhận ra.

Ừ là tháng Giêng sắp về rồi đấy, lối nào cũng mong ngóng dẫn về bình yên. Dẫu chưa về quê, chiều qua trên đường đi làm về nhìn cánh cò lạc bên sông giữa phố mà đã thấy như thật gần dáng những chị những mẹ ra đồng, dáng lưng còng trên ruộng mạ non xanh, thi thoảng những cánh cò lả lướt bay lên cùng ca dao. Là những tờ lịch đầu năm mới đấy, đang chờ tay người lật mở, chỉ nhắm mắt lại thôi bạn có thể nghe trái tim mình đang hát lời thương yêu. Người và vạn vạt quyện hòa lấy nhau như không thể nào thiếu được.

Người có nghe tháng Giêng chầm chậm về cùng tiếng chuông chùa? Tiếng chuông những ngày này luôn nhắc nhớ những bà, những mẹ mình quanh năm tất bật, chỉ thư thái khi bước chân vào những đền, chùa quen thuộc. Những sớm mai se lạnh đến và đi như có hẹn, chỉ sau Noel, bước về tháng Giêng sẽ vụt tan đi như lớp mây mù mỗi sáng kia. Khi ấy, mẹ nhắc ta bài học biết ơn những ngày đông lạnh để dòng nhựa chảy trong từng thớ vỏ, những cành cây khẳng khiu, để kiêu hãnh dâng lên một mùa lộc mới. Mẹ nhắc ta cuối năm biết cảm ơn Trời Phật, ơn trên đã độ trì cho một năm bình an, biết cầu cho tâm mình an, cũng đừng quên cầu cho tâm người thân yêu, cả người dưng được an. Đơn giản, hạnh phúc nằm trong chữ an, chẳng ai có thể giữ bình an khi chỉ cầu an cho mỗi riêng mình. Và cả những khi, dù chẳng nhắc chi đâu, nhưng ánh mắt nụ cười của mẹ khi trao gửi những người dưng trong những sáng lên chùa ấy cứ nhắc ta hoài, mở lòng sẽ đón nhận được niềm vui. Những ngày đầu năm vui, ấm cúng, nhất định sẽ có một khởi đầu mới mẻ, đầy tin yêu, đầy may mắn. Lạ thay, điều tưởng như không mấy logic ấy lại được nuôi mãi trong tâm trí của ta, từ khi còn là đứa trẻ cho đến mãi sau này.

Người có nghe những yêu thương từ cái nắm tay của những đôi bạn trẻ đi ngoài phố. Dẫu rằng chẳng quen đâu, mà cái nắm tay, nụ cười họ dành cho nhau ấy, sao bỗng dưng thấy thân quen chi lạ. Nó khiến ta nhớ chính thanh xuân của ta, như chưa hề có khoảng cách vài mươi năm, mà như thể hiện hữu trong ánh mắt, nụ cười đôi trẻ ấy. Nó khiến ta nhớ cái nắm tay thuở ban đầu bên bờ sông Tháng Giêng mờ mờ sương trong nắng mềm và gió đã bớt lạnh, nuôi nấng mãi những mộng mơ tuổi thanh xuân.

Và vì thế, Tháng Giêng “ngon như một cặp môi gần”. Và vì thế Tháng Giêng đánh thức yêu thương trong lòng mình, với cả những cánh én nhỏ bay trong nắng mới, những nụ hoa vừa hé trước sân. Để thấy tim mình đang mềm đi như một câu hát bình yên, biết yêu từng chồi non mơn man, biết yêu một dòng sông êm êm trôi trong sương sớm, biết trân trọng từng khoảnh khắc sống chậm, biết nâng niu từng giọt xúc cảm ngọt ngào còn long lanh mãi trong tâm trí mình. Dẫu rằng, dù đang tuổi mười tám đôi mươi hay U40, U50, U60... đã bước qua ngưỡng U20 từ lâu lắm thì chỉ bước qua Tháng Giêng, vẫn thấy thanh xuân trong từng khoảnh khắc.

Cảm ơn Tháng Giêng đã giữ giùm những ngày tháng ít bận rộn để mẹ và con, người với người xích gần nhau hơn như thế.

Võ Thu Hương

Thứ Hai, 19 tháng 12, 2022

Kỷ niệm 78 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2022): Quân đội anh hùng của dân tộc anh hùng

 


78 năm qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, kế thừa truyền thống quý báu của dân tộc trong công cuộc dựng nước và giữ nước, đấu tranh kiên cường, bất khuất của dân tộc, được nhân dân hết lòng thương yêu, đùm bọc, nuôi dưỡng, Quân đội nhân dân Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, anh dũng chiến đấu hy sinh, từng bước trưởng thành, lớn mạnh.

Ngay trong những ngày đầu mới thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã mưu trí, dũng cảm chiến đấu, lập nên chiến công Phai Khắt, Nà Ngần, mở đầu cho truyền thống quyết chiến, quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chiến công nối tiếp chiến công, Quân đội ta đã cùng với toàn dân tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa, đưa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến thắng lợi, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước Công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, Quân đội đã làm nòng cốt cùng toàn dân và các lực lượng vũ trang chiến đấu và giành thắng lợi vang dội trong các chiến dịch Việt Bắc (năm 1947), Biên Giới (năm 1950) và cuộc quyết chiến chiến lược Đông Xuân (năm 1953 - 1954) với đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, từ Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” (năm 1972) đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử; quân và dân ta đã làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975; góp phần hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là những kỳ tích hào hùng của thời đại Hồ Chí Minh.

Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, cùng toàn dân bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Là đội quân cách mạng, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, gắn bó máu thịt với nhân dân, 78 năm qua, Quân đội luôn dựa vào dân để thực hiện nhiệm vụ, đồng thời luôn sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản và cuộc sống yên bình của nhân dân; tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương, tăng cường “thế  trận lòng dân”; chủ động giúp nhân dân phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; tích cực tham gia các phong trào “đền ơn đáp nghĩa”, “xóa đói giảm nghèo”, nhất là ở các địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đặc biệt, mỗi khi thiên tai, dịch bệnh xảy ra, cán bộ, chiến sĩ quân đội và các lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên đã dũng cảm, xả thân bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, giúp nhân dân khắc phục hậu quả, ổn định đời sống và sản xuất, để lại những ấn tượng tốt đẹp trong lòng nhân dân, tô thắm thêm truyền thống và phẩm chất cao đẹp bộ đội Cụ Hồ.

Vừa làm tròn chức năng của một đội quân chiến đấu, toàn quân đã luôn nêu cao tinh thần tự lực, tự  cường, khắc phục khó khăn, tích cực lao động, tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống bộ đội. Trong kháng chiến, Quân đội đã vừa đánh giặc, vừa sản xuất, thực hiện “thực túc - binh cường”, trực tiếp tạo ra của cải, vật chất phục vụ cho cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc. Trong hòa bình, Quân đội lại vừa xây dựng, vừa tham gia lao động, sản xuất, phát triển kinh tế đất nước; góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an sinh xã hội, tăng cường tiềm lực và thế trận quốc phòng trong thời kỳ mới.

Trải qua 78 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, Quân đội ta thật sự là một quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng; làm tròn chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất và làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang; xứng đáng với lời khen ngợi của Bác Hồ kính yêu: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta diễn ra trong bối cảnh có những thuận lợi cơ bản, nhưng cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức lớn. Tranh chấp chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông ngày càng gay gắt. Các thế lực thù địch tăng cường hoạt động “diễn biến hòa bình”, chống phá cách mạng nước ta một cách tinh vi, trắng trợn. Cuộc đấu tranh trên mặt trận chính trị, tư tưởng diễn ra hết sức gay gắt và ngày càng quyết liệt. Điều đó đang đặt ra yêu cầu rất cao đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; trong đó, vấn đề xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, từng bước hiện đại là nội dung đặc biệt quan trọng và là yếu tố cơ bản để quân đội ta hoàn thành trọng trách là lực lượng chiến đấu, lực lượng chính trị trung thành của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Xây dựng quân đội về chính trị là nguyên tắc cơ bản hàng đầu là vấn đề có tính quy luật và có ý nghĩa sống còn đối với quân đội ta. Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị thực chất là xây dựng quân đội kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân, xây dựng quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đồng thời, đòi hỏi phải luôn giữ vững và không ngừng tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Đây là vấn đề cốt tử có tính nguyên tắc và cũng là bài học kinh nghiệm sâu sắc trong thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta trong 78 năm qua. Bài học đó càng có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong giai đoạn cách mạng hiện nay, có ý nghĩa quyết định nhất là phải xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh, có sức chiến đấu cao, có năng lực lãnh đạo toàn diện, làm tốt chức năng tham mưu chiến lược cho Đảng, Nhà nước về nhiệm vụ quân sự quốc phòng.

Trước yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới, tin tưởng Quân đội nhân dân Việt Nam nêu cao khát vọng phát triển “đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, “dân tộc cường thịnh, trường tồn”, khơi dậy khát vọng cống hiến của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang đem trí tuệ, tài năng, nhiệt huyết của mình, tiếp tục phát huy phẩm chất tốt đẹp bộ đội Cụ Hồ, phát huy truyền thống vẻ vang, thể hiện rõ vai trò của một đội quân chiến đấu, trung thành vô hạn với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thân yêu.

                                                                       Ths. Nguyễn Thanh Hoàng

Thứ Ba, 13 tháng 12, 2022

KỶ NIỆM 76 NĂM NGÀY TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN (19/12/1946 – 19/12/2022): KHÁT VỌNG ĐỘC LẬP, TỰ DO CỦA MỘT DÂN TỘC YÊU NƯỚC!

 


Kỷ niệm 76 năm ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 – 19/12/2022): Khát vọng độc lập, tự do của một dân tộc yêu nước!

 


Ngày 26/9/1945, tại ga Hàng Cỏ, đoàn quân Nam tiến đầu tiên rời Hà Nội vào chi viện cho miền Nam, mở đầu cho phong trào Nam tiến, cả nước sát cánh cùng đồng bào Nam bộ và Nam Trung bộ đánh giặc cứu nước. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

 

Tháng 9/1945, không chấp nhận để Việt Nam và Đông Dương giành độc lập, dưới sự ủng hộ của quân Anh với danh nghĩa là lực lượng Đồng minh vào giải giáp quân Nhật, thực dân Pháp đã quyết tâm trở lại xâm lược nước ta. Trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” đó, Đảng ta, Chính phủ và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tìm mọi cơ hội hòa hoãn, kéo dài thời gian hòa bình nhằm chuẩn bị cho cuộc kháng chiến có thể không thể tránh khỏi.

Thế nhưng, trước dã tâm và những hành động ngoan cố của thực dân Pháp hòng áp đặt sự cai trị Việt Nam và Đông Dương một lần nữa, các nỗ lực cứu vãn nền hòa bình của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đều bất thành. Quyết tâm giữ vững nền tự do, độc lập của dân tộc, của đất nước, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định cùng nhân dân cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp. Ngày 19/12/1946, tại Vạn Phúc, Hà Đông (nay thuộc Thủ đô Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” với nội dung:

“Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.

Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!

Giờ cứu quốc đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.

Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!

Kháng chiến thắng lợi muôn năm!


“Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” là lời hiệu triệu toàn dân tộc Việt Nam đoàn kết một lòng chống Pháp với đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh”.

Hưởng ứng Lời kêu gọi đó, nhân dân cả nước từ già đến trẻ, từ thành thị đến nông thôn, từ miền ngược đến miền xuôi và mọi tầng lớp trong xã hội đã nhất tề đứng lên chống Pháp. Hà Nội là một trong những chiến trường chính trong những ngày đầu kháng chiến toàn quốc. Từ đêm 19/12/1946, quân và dân Thủ đô đã đồng loạt tấn công chủ động, bất ngờ vào các căn cứ của quân Pháp. Với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, quân dân Thủ đô kiên cường bám trụ, giành giật với địch từng mái nhà, góc phố, con đường, làm tiêu hao sinh lực địch, giam chân Pháp trong thành phố nhiều ngày để tạo điều kiện cho các cơ quan đầu não, chủ lực kịp thời sơ tán lên chiến khu Việt Bắc một cách an toàn và bước vào giai đoạn trường kỳ kháng chiến vào tháng 3/1947.

Đồng thời, quân và dân cả nước đã đồng loạt anh dũng đứng lên chống Pháp với ý chí căm thù giặc sục sôi, với niềm tin tất thắng.

Quân và dân Hà Nội đào giao thông hào ngay trong Bắc bộ phủ, sẵn sàng chiến đấu chống giặc. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chính phủ ta đã phát huy tối đa truyền thống đoàn kết, yêu nước của dân tộc Việt Nam. Đây là nền tảng quan trọng để quân dân ta đánh bại chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp, tạo tiền đề vững chắc cho những thắng lợi tiếp theo, từng bước bẻ gãy ý chí xâm lược của chúng. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 không chỉ góp phần giải phóng một nửa đất nước Việt Nam mà còn thúc đẩy sự sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa thực dân mới trên phạm vi toàn thế giới.

Kỷ niệm 75 năm ngày Toàn quốc kháng chiến là thêm một dịp để toàn Đảng, toàn dân ôn lại truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam anh hùng. Bước vào thế kỷ XXI, Đảng và Nhà nước ta đã tiếp tục lãnh đạo nhân dân giành được những thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới, đang từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Những thành tựu về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, xã hội… của nhân dân ta trong những năm qua đã được bạn bè quốc tế thừa nhận. Đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta qua nhiều nhiệm kỳ đại hội, góp phần tạo nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của nước ta qua 35 năm đổi mới, như Đảng ta đã nhận định.

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh. (Nguồn: http://hochiminh.vn/)

Tuy nhiên, đất nước ta đang đối diện với những thử thách to lớn, như công nghiệp hoá, hiện đại hóa còn chậm, chưa tạo được chuyển biến căn bản về mô hình tăng trưởng; năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao; đổi mới giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ chưa thực sự trở thành động lực then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu còn bất cập; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có mặt chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quản lý đất nước trong tình hình mới; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn một số hạn chế; những vấn đề toàn cầu, như bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường... tiếp tục diễn biến phức tạp… Đây là những vấn đề đã được Đại hội XIII của Đảng nhìn nhận và có phương hướng khắc phục.

Phát huy tinh thần khát vọng độc lập, tự do, tinh thần tự lực, tự cường của dân tộc, cả hệ thống chính trị và cán bộ, đảng viên cần tiếp tục sáng tạo, dũng cảm, kiên trì để cùng nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, tiếp tục đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn trong thời gian tới.

Nguyễn Hồ Phong


Thứ Hai, 5 tháng 12, 2022

Kỷ niệm 33 năm ngày truyền thống Hội Cựu chiến binh Việt Nam (06/12/1989-06/12/2022)

 

BÊN PHỐ TRĂM NĂM

Tôi vẫn thích ngồi lại bên những người già. Mỗi người già trong cuộc đời này đều là một kỳ quan. Khi những người già kể cho tôi nghe về cuộc đời họ, trong ký ức xa xôi đó là dáng hình của phố, là chân dung một giai đoạn, một thời đại sống; cả niềm vui lẫn nỗi buồn của một kiếp con người. Những người già luôn khiến tôi thấy ngưỡng mộ - như một người già của phố trăm năm mà tôi đã được ngồi lại vào một buổi chiều nắng đổ qua thành phố. Ông là cựu binh Nguyễn Thanh Hà – người đã lặng lẽ mấy mươi năm qua đi khắp miền Nam tìm hài cốt đồng đội.


Đồng chí Phan Văn Mãi - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố
đã đến thăm thương binh Nguyễn Thanh Hà

NGƯỜI CỰU BINH GIÀ LẶNG LẼ TÌM ĐỒNG ĐỘI

Ngày 22/11/1965, trong cuộc chiến không cân sức với địch tại Dầu Tiếng (Bình Dương), gần 200 chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Thân xác các anh nằm lại với rừng suốt nửa thế kỷ, cho đến khi được đồng đội tìm thấy. Giữa trưa nắng Dầu Tiếng, khi những mảnh xương liệt sĩ đầu tiên xuất hiện lẫn trong bùn đất, có người cựu binh già vừa gọi điện báo tin khắp nơi cho anh em bạn bè, vừa khóc nức nở. Cuộc tìm kiếm này, ông đã nguyện, nếu không có kết quả, ông cũng sẽ nằm lại với đồng đội.


Thương binh Nguyễn Thanh Hà giao lưu tại Ngày hội tri ân

ĐỂ TRẢ NỢ ĐỒNG ĐỘI

Cho đến bây giờ, khi nhắc về cuộc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ ở huyện Dầu Tiếng (Bình Dương) vào năm 2015, cựu binh Nguyễn Thanh Hà vẫn không nguôi niềm xúc động. Đồng đội ông, 187 người đã ra đi, không kịp nói một lời vĩnh biệt, không được nhớ mặt gọi tên. Thân xác các anh vùi sâu vào lòng đất mẹ. 50 năm sau, bầu trời hòa bình đã xanh biếc trên đầu.

Ngày 22/11/1965, Trung đoàn 3, Sư đoàn 9 của ta mở đợt tấn công vào căn cứ Trung đoàn 7, Sư đoàn 5 của Mỹ - Ngụy. Trước trận đánh tại Làng 10 – Dầu Tiếng (nay là ấp Đồng Trai, xã Định Hiệp, huyện Dầu Tiếng), trinh sát báo về địch có 47 xe tăng, trung đoàn chuẩn bị lực lượng tấn công. Vậy nhưng đêm đến, chúng bí mật tập hợp thêm 100 xe nữa. Quân ta chiến đấu kiên cường, gây cho địch không ít tổn thất. Nhưng vì quá chênh lệch về lực lượng, bị phản công, rất nhiều chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. “Ba ngày sau, địch gom xác chở anh em về căn cứ, kêu gọi dân làng ra nhận. Nhưng không ai nhận. Cuối cùng, chúng mang xác các anh em chất lên ba xe tải, rồi ra đổ xuống mương nước trong rừng” – cựu binh Nguyễn Thanh Hà xót xa.

Con mương chiều ngang 2m, sâu khoảng 2m, dài 400m. Sau nửa thế kỷ, mương nước đã cạn. Vậy mà phải đến lần tìm kiếm thứ tư, sau gần ba ngày đào xúc cật lực, đội tìm kiếm mới thấy được dấu tích liệt sĩ từ chiếc dép râu. “Đào ngày thứ nhất không tìm thấy gì. Ngày thứ hai, đào đến hai giờ chiều cả hai xe xúc đều hỏng cùng một lúc, không cách gì sửa được. Tôi gọi ra Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người ngoài Hà Nội, xin ý kiến. Các thầy nói rằng, các liệt sĩ đang thử thách chúng tôi. Giờ phải làm mâm cơm cúng mặn, khấn vái các anh cho gặp. Tôi làm theo, đốt bảy nén nhang vái khắp bốn phương trời mười phương Phật, mong anh em có linh thiêng hãy dẫn đường cho chúng tôi tìm thấy. Tôi cứ làm theo thành khẩn như thế. Đã tìm đến mấy lần rồi, lòng tôi vô cùng xót xa, không có lý do gì mà một số lượng hài cốt lớn đến như vậy mà mình không thể tìm ra. Vậy mà rồi kỳ lạ, khi nhang cháy đến một phần ba thì cả hai chiếc xe xúc đều hoạt động trở lại. Chúng tôi tiếp tục đào khẩn trương, cuối cùng đã tìm được” – cựu binh Nguyễn Thanh Hà nhớ lại.

Khi mảnh xương hài cốt liệt sĩ đầu tiên được tìm thấy, mọi người đều vô cùng xúc động. Còn cựu binh Nguyễn Thanh Hà, ông gọi điện báo cho khắp nơi, những người đồng đội, các cơ quan, các cấp thẩm quyền. Ông vừa nói vừa khóc. Cuối cùng, ông và các anh em đã tìm ra nơi các chiến sĩ nằm lạnh lẽo suốt nửa thế kỷ. Hài cốt của các anh, xương sọ, xương ống chân, xương tay lẫn dây nịt, dây võng, khăn gói cơm vắt bằng vải dù…đều còn, gần như nguyên vẹn.

187 hài cốt đã được tìm thấy trong mương nước giữa rừng.

Tôi ngồi trong căn nhà nhỏ yên tĩnh của ông trên đường An Bình (Q.5), như hiển hiện trước mắt mình hình ảnh một người già run rẩy khóc. Đồng đội ông được tìm thấy, cũng có nghĩa là sẽ có câu trả lời về cho gia đình của các anh. Rằng mấy mươi năm qua, con em họ đã nằm lại ở đâu. “Tôi làm công việc này, như để trả nợ cho đồng đội tôi, trả nợ với các gia đình chiến sĩ” – cựu binh Nguyễn Thanh Hà tâm sự. Những cuộc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ, ông đi với những người bạn có cùng tâm nguyện. Tháng 11/2019, ông cũng vừa về huyện Hồng Ngự (Đồng Tháp) để bắt đầu một cuộc tìm kiếm khác, tìm lại tên cho các liệt sĩ nằm trong những ngôi mộ vô danh ở nghĩa trang Dòng Chùa, các chiến sĩ đã hy sinh vào ngày 20/3/1973, trong cuộc đối đầu với Pol Pot.

Có lần tìm được hài cốt liệt sĩ Lê Hữu Quốc, hy sinh ngày 12/10/1977 trong trận đánh tại Bến Cầu (Tây Ninh), đưa về gia đình tại Hà Nội. Ông mới biết có người mẹ già đau ốm nằm liệt giường suốt 4 năm trời, vẫn cứ ngóng chờ tin con. Ngày đón con trai trở về yên nghỉ ở nghĩa trang Nhổn (Hà Nội), bà mới cất được gánh nặng chờ mong suốt mấy mươi năm, và rồi bà đã ra đi thanh thản…

Cựu binh Nguyễn Thanh Hà nói, ông không đếm hết những chuyến đi khắp các tỉnh, thành miền Nam để tìm đồng đội. Ông cũng không màng đến những khó khăn vất vả. “Có xe bạn thì đi, không thì nhảy xe khách, về tỉnh nào cũng có đồng đội của mình. Ngủ sao cũng được, có gì ăn nấy, bạn bè đồng đội ở khắp miền Nam này mà” – ông nói. Người cựu binh ấy năm nay đã 77 tuổi, là thương binh hạng nặng, thương tật ¼, mất sức 81%.

“TẤT CẢ ĐỜI TA, SỨC TA ĐÃ HIẾN DÂNG CHO SỰ NGHIỆP CAO ĐẸP NHẤT”

Khi tôi gọi điện ngỏ lời hẹn gặp, cựu binh Nguyễn Thanh Hà cứ ngần ngại, nhiều lần hỏi tôi: “Có cần thiết phải viết không con?”. Ông muốn lặng lẽ làm công việc của mình, trong yên tĩnh. “Công việc của mình làm là trách nhiệm đối với Tổ Quốc, không phải làm để được khen, hay để cho mọi người biết đến. Chỉ cái nào lợi cho dân cho nước thì làm. Tôi vốn dĩ đã nghĩ và sống như vậy từ xưa đến giờ rồi” – cho đến khi được ngồi lại bên ông, tôi mới hiểu đó là lựa chọn của người lính. Lựa chọn lý tưởng mà một thế hệ tuổi trẻ thời đại ông đã chọn. Như câu nói của nhân vật Pavel Korchagin (trong tác phẩm Thép đã tôi thế đấy! của nhà văn Nikolai A.Ostrovsky): “Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí; cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và đớn hèn của mình, để khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người”.

Con người được sinh ra trong cõi đời này, đều nhận lấy một sứ mạng. Tôi tin rằng, số phận đã chọn ông, chọn để thử thách, và để làm những điều ý nghĩa mà ông đã xem đó như là lẽ sống của đời mình. “Cái chết ai mà không sợ. Vậy mà ông ấy thì không. Bị thương nặng được đơn vị cho phục viên, ông vẫn trốn viện, vào với đồng đội. Không ai viết giấy giới thiệu, không có suất ăn, không được trang bị vũ khí, ông cũng nhất quyết bám trụ với đồng đội, sống chết có nhau” – bà Trần Thị Thanh Quế, người bạn đời của cựu binh Nguyễn Thanh Hà hồi tưởng. Ông không sợ chết, vì nghĩ, gia đình không còn ai thân thích, cả ba anh em đều đi lính, không biết ai còn ai mất. Cả một thời trai trẻ, với ông, đơn vị là nhà, đồng đội là anh em, phía trước chỉ có đường hành quân và những trận chiến.

Chiến tranh ra đi không hẹn ngày về. Người chiến sĩ Nguyễn Thanh Hà năm ấy, trước mỗi trận chiến đều xác định mình sẽ chết. Kể cả cái lần bị thương nặng nằm ngất lịm trong trận chiến ở Đồng Rùm – Tây Ninh. Khoảnh khắc sinh tử ấy, ông đã cố nhìn lại cánh rừng quen thuộc, nhìn bóng dáng đồng đội xung phong, cố thu vào tầm mắt nguồn sáng cuối cùng khi máu đã chảy tràn trên mặt.

“Vậy mà rồi cũng không chết được. Tôi tỉnh dậy ở trạm xá, nghe kể lại rằng có một nữ thanh niên xung phong đã tìm thấy, đưa tôi về rồi lại tất tả lao ra cánh rừng tiếp tục tìm thương binh. Tôi đã tìm kiếm người ân nhân ấy suốt nhiều năm, nhưng không có manh mối. Có người nói với tôi rằng, cô ấy đã hy sinh trong cuộc tìm kiếm hôm ấy…” – cựu binh Nguyễn Thanh Hà ngậm ngùi.

Mỗi người già đều là chứng nhân của thời đại. Ký ức của họ là cả một kho tàng quý giá. Huống gì người già ấy lại trở về từ cuộc chiến. Như cựu binh Nguyễn Thanh Hà. Cuộc đời ông đã mất mát từ khi còn thơ ấu. Chiến tranh tước đi sinh mạng của bố mẹ, ba anh em ông mỗi người một nơi làm con nuôi, rồi từ Hưng Yên xuôi Nam. Bản thân ông mấy lượt làm con nuôi trong các gia đình, từ Việt Nam đến Campuchia. Hết tham gia kháng chiến chống Mỹ lại tái ngũ, sang chiến trường K. Đến giờ, đã bước qua gần trọn kiếp con người, ông vẫn nhớ tất cả, nhớ rõ từng chi tiết, từng trận chiến, từng đồng đội đã hy sinh. Nhớ để bắt đầu những cuộc kiếm tìm…

Cuộc tìm mộ đầu tiên bắt đầu từ năm 1994, tìm mộ bố mẹ ông ở quê nhà. Bố ông hy sinh, nằm lại Ninh Bình, năm 1949. Mẹ ông bị thương khi Pháp đánh vào Ty công an tỉnh Ninh Bình, được đưa về bệnh viện Thanh Hóa, bà mất, chôn ở Thanh Hóa, năm 1951. “Bây giờ ông bà đã được nằm cùng nhau ở Ninh Bình. Khi tìm thấy bố mẹ mình, tôi mới cảm nhận rõ nỗi đau của những gia đình mất con mà chưa tìm thấy hài cốt. Thân nhân của tôi, tôi đã tìm ra rồi. Còn những người thân của các liệt sĩ, họ phải tìm kiếm, chờ đợi đến bao giờ. Nếu không đưa các anh về với gia đình, tôi thấy mình mắc nợ họ, một cái nợ lớn” – cựu binh Nguyễn Thanh Hà tâm sự. 

Những cuộc tìm kiếm của ông vẫn đang tiếp tục. Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Vũng Tàu, sang tận Campuchia…Còn rất nhiều nơi, rất nhiều hài cốt liệt sĩ chưa được tìm thấy. Từ những chuyến đi tìm hài cốt liệt sĩ, ông còn kết nối làm từ thiện, trao quà, tặng nhà cho gia đình địa phương có hoàn cảnh khó khăn.

Người cựu binh ấy đã kể cho tôi nghe về những cuộc chiến, về những hy sinh của đồng đội, về nỗi day dứt khi chưa thể tìm được các anh…Ông không nói gì về mình. Chỉ đến khi rời đi, tôi mới biết, ông là Thiếu tá, 54 năm tuổi Đảng.

BÙI TIỂU QUYÊN

 

Tóm tắt tiểu sử Cựu binh Nguyễn Thanh Hà:

Cựu binh Nguyễn Thanh Hà, sinh năm 1942 tại Hưng Yên. Năm 1962, ông tham gia kháng chiến chống Mỹ (thuộc Trung đoàn 2, Sư đoàn 9 – Sư đoàn bộ binh đầu tiên của miền Nam). Năm 1977, ông chuyển ngành làm Trưởng phòng tổ chức Tổng công ty Lương Thực, sau đó làm Phó Giám đốc công ty Đồ gỗ xuất khẩu (Sở Ngoại thương TPHCM). Năm 1979, tiếp tục tái ngũ sang chiến trường Campuchia. Năm 1983, ông trở về làm công tác đối ngoại cho đoàn 478 Bộ Quốc phòng.

Ngày 21/3/1967, Mỹ đổ 45.000 quân xuống Tây Ninh nhằm tiêu diệt các cơ quan đầu não của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, trong chiến dịch Junction City kéo dài 53 ngày đêm. Đơn vị chủ lực lúc đó có sư đoàn 5, sư đoàn 7, sư đoàn 9. “Đêm nào cũng chuẩn bị 10 giờ đêm mỗi chiến sĩ có một nắm cơm, sẵn sàng chiến đấu. Địch đổ quân vào với trên 100 xe tăng, san ủi cây rừng rạp ngọn. Mình đánh vào, chiến đấu từ 5 giờ 30 phút sáng đến 2 giờ chiều. Khi tiếng súng bắt đầu thưa thớt, tôi nấp dưới gò mối, bắn nhử để xác định vị trí địch bắn vào, nhờ thế ta tiêu diệt được 3 xe tăng địch. Sau không nghe súng địch bắn trả nữa, tưởng rằng chúng đã yếu thế, tôi vừa nhỏm dậy hô anh em xung phong thì trúng đạn 12,7 ly, máu tuôn xối xả, chỉ còn kịp xếp nón vải làm tư, cầm máu. Tôi nằm đó và thấy đồng đội tiếp tục xung phong, nhiều người ngã xuống…” – cựu binh Nguyễn Thanh Hà, người trở về từ cuộc chiến tranh, đã chẳng thể nào quên những năm tháng đã sống, đã chiến đấu, vì một lý tưởng chung nhất là giải phóng, hòa bình cho dân tộc.


KỶ NIỆM 94 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN (26/3/1931 – 26/3/2025)

  Nhớ những lời dạy của Bác Hồ dành cho thanh niên Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại luôn dành những...